vanban.org

Bản án 08/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Trần Văn L được ly hôn với chị Hoàng Thị C.

Về con chung: Giao cháu Trần Thu H, sinh ngày 13/5/2020 cho anh Trần Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Hoàng Thị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Trần Văn L phải nộp 300.00… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Lợi xin ly hôn chị Chi"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Trần Văn L được ly hôn với chị Hoàng Thị C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YS
TỈNH TQ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST
Ngày 10/01/2023
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YS, TỈNH TQ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Huệ và bà Lộc Thị Kim Thơm.

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thảo Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện YS, tỉnh TQ.

Đại diện Viện kiếm sát nhân dân huyện YS, tỉnh TQ tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Trà My - Kiểm sát viên.

Ngày 10/01/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện YS mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 234/2022/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 11 năm 2022, về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 09/12/2022, giữa:

1. Nguyên đơn: Anh Trần Văn L, sinh năm 1995.

2. Bị đơn: Chị Hoàng Thị C, sinh năm 2000.

Cùng địa chỉ: Thôn ĐB, xã TQ1, huyện YS, tỉnh TQ.

(Anh L có đơn xin xét xử vắng mặt, chị C vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Trần Văn L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Hoàng Thị C tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn, khi kết hôn có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn ngày 05/02/2020 tại Ủy ban nhân dân xã TQ1, huyện YS, tỉnh TQ. Sau khi kết hôn vợ chồng anh sống tại thôn ĐB, xã TQ1, huyện YS. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, hòa thuận bình thường, đến tháng 6 năm 2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn là do tính tình hai bên không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm, lối sống. Anh và chị C sống ly thân từ tháng 6 năm 2022 đến nay. Nay anh xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn tình cảm với nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị Tòa án nhân dân huyện YS giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hoàng Thị C.

Về con chung: Anh và chị Hoàng Thị C có 01 con chung, là cháu Trần Thu H, sinh ngày 13/5/2020, hiện nay cháu H đang ở với anh. Sau khi ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung và không yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, về nợ chung: Anh và chị C không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành gửi thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập nhưng chị C không đến Tòa án tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật, Tòa án đã tiến hành đi xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương được biết, chị Hoàng Thị C có hộ khẩu thường trú tại thôn ĐB, xã TQ1, huyện YS, hiện chị C vắng mặt tại nơi cư trú, chị C không thông báo tạm trú, tạm vắng nên gia đình và địa phương không nắm được hiện chị C đang làm gì ở đâu, nhưng chị C thỉnh thoảng vẫn về qua nhà thăm con một lúc rồi lại đi luôn. Tòa án đã tiến hành niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các tài liệu khác tại địa phương nơi chị C cư trú theo quy định, nhưng chị C đều vắng mặt không có lý do và cũng không nộp cho Tòa án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh L có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải. Do vậy, Tòa án không tiến hành phiên hòa giải và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ thể hiện: Về quan hệ hôn nhân, anh Trần Văn L và chị Hoàng Thị C là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn vào ngày 05/02/2020 tại Ủy ban nhân dân xã TQ1, huyện YS, tỉnh TQ. Sau khi kết hôn vợ chồng anh L, chị C sống chùng cùng gia đình nhà anh L. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, hòa thuận bình thường, đến thời gian gần đây vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn địa phương không nắm được, nhưng anh L và chị C đã sống ly thân từ tháng 6/2022 cho đến nay, hiện không còn tồn tại một gia đình, hạnh phúc, tiến bộ, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung, vợ chồng anh L, chị C có 01 con chung là cháu Trần Thu H, sinh ngày 13/5/2020, hiện cháu H đang ở với anh L. Về tài sản chung, nợ chung anh L, chị C không có. Về hộ khẩu thường trú, anh L, chị C có hộ khẩu thường trú tại thôn ĐB, xã TQ1, huyện YS, tỉnh TQ, chị C đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về nhà, khi đi làm ăn chị C không thông báo tạm trú, tạm vắng nên gia đình và địa phương không biết hiện chị C đang làm gì, ở đâu. Về thu nhập bình quân của anh L khoảng 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng/1 tháng và có chỗ ở ổn định, còn chị C đi làm ăn xa địa phương không nắm được.

Trong đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà, anh Trần Văn L giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên toà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện YS phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, thẩm phán và Hội đồng xét xử (HĐXX) đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo, riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định (không có mặt theo giấy triệu tập của Toà án). Đề nghị HĐXX: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn L, xử cho anh Trần Văn L được ly hôn với chị Hoàng Thị C. Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Thu H, sinh ngày 13/5/2020 cho anh Trần Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Hoàng Thị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về án phí: Anh Trần Văn L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả làm việc tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Trần Văn L và chị Hoàng Thị C kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn, vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Anh L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, giao nuôi con chung khi ly hôn, do vậy quan hệ pháp luật tranh chấp xác định là: Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Kết quả xác minh xác định chị Hoàng Thị C hiện đang cư trú, sinh sống tại xã TQ1, huyện YS, tỉnh TQ. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện YS, tỉnh TQ.

Chị Hoàng Thị C đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, anh Trần Văn L có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, HĐXX căn cứ điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

Về yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn L, HĐXX nhận định:

- Đối với yêu cầu xin ly hôn với chị Hoàng Thị C: Căn cứ kết quả xác minh tại chính quyền địa phương nơi chị C đang sinh sống thường xuyên xác định: Anh L và chị C là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn vào ngày 05/02/2020 tại Ủy ban nhân dân xã TQ1, huyện YS, tỉnh TQ. Cuộc sống vợ chồng anh chị hạnh phúc đến tháng 6/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn cụ thể địa phương không nắm được. Bản thân anh L xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể quay lại đoàn tụ được. Mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn theo anh L xác định do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Quá trình giải quyết vụ án, chị C không có ý kiến gì, không có mặt theo yêu cầu của Tòa án để tiến hành hòa giải, điều đó cho thấy chị C cũng không mong muốn hòa giải đoàn tụ. Anh L và chị C đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai, hiện không còn tồn tại một gia đình, hạnh phúc, tiến bộ. Từ những căn cứ trên xác định, tình trạng hôn nhân giữa anh L và chị C đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của anh L là chính đáng và có căn cứ cần chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Đối với yêu cầu được giao nuôi con chung khi ly hôn, HĐXX nhận định: Anh L và chị C có 01 con chung là cháu Trần Thu H, sinh ngày 13/5/2020, cháu H đang ở cùng anh L. Cháu Trần Thu H dưới 36 (ba mươi sáu) tháng tuổi, căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định: Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với L ích của con”. Tuy nhiên, khi bỏ nhà đi chị C để cháu H ở nhà cho anh L nuôi dưỡng, chị C thỉnh thoảng về thăm con con một lúc rồi lại đi không rõ đang ở địa chỉ cụ thể nào, không rõ nghề nghiệp, mức thu nhập và không có văn bản trình bày nguyện vọng nuôi con. Bản thân anh L có nguyện vọng được nuôi con, anh L có thu nhập trung bình khoảng 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng/1 tháng, có chỗ ở ổn định. Từ những căn cứ trên, HĐXX xét thấy để đảm bảo các điều kiện phát triển tốt nhất cho cháu H và yêu cầu được quyền nuôi con của anh L là có căn cứ cần được chấp nhận. Do anh L không yêu cầu cấp dưỡng nên chị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, về công nợ chung: Anh L xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh L phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Chị C không phải nộp án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Trần Văn L được ly hôn với chị Hoàng Thị C.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Thu H, sinh ngày 13/5/2020 cho anh Trần Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Hoàng Thị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Trần Văn L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0004281, ngày 07 tháng 11 năm 2022 tại C cục Thi hành án dân sự huyện YS, tỉnh TQ. Chị Hoàng Thị C không phải chịu án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Anh Trần Văn L và chị Hoàng Thị C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ