- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị G.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| P TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST Ngày: 09 - 02 - 2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Sỹ Mạnh.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tình và bà Hồ Thị Huệ.
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 353/2022/TLST-HNGĐ, ngày 21/11/2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/12/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 02/QĐST-DS ngày 11/01/2023 và thông báo mở lại phiên tòa số 40/2023/TB-TA ngày 31/01/2023 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 2001 - Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Xóm E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Viết M, sinh năm 1996 - Vắng mặt.
Nơi cư trú: Xóm E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/11/2022, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị G trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Viết M kết hôn ngày 30/9/2019, đăng ký kết hôn tại UBND xã Quỳnh Diễn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Vợ chồng kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Quá trình chung sống vợ chồng tG xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, đối xử thiếu tôn trọng nhau. Vợ chồng bắt đầu sống ly thân từ tháng 07/2022cho đến nay chấm dứt mọi quan hệ tình cảm. Nay xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Viết M.
Về con chung: Chị và anh M có 01 con chung là Nguyễn Viết Trung, sinh ngày 24/11/2019, không ai có con riêng, không có con nuôi. Ly hôn chị đề nghị giao con chung cho anh M trực tiếp nuôi và chị không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ M sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, đơn khởi kiện và M liệu kèm theo, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo hoãn phiên họp, thông báo kết quả phiên họp; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, thông báo mở lại phiên tòa nhưng anh M vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/12/2022 ông Nguyễn Viết T (ông nội của anh M) trình bày: Chị G và anh M, sau khi kết hôn chung sống với nhau có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai vợ chồng không hợp nhau, tG xuyên xảy ra cãi vã. Anh M có trao đổi với ông là đồng ý ly hôn như nguyện vọng của chị G, có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Viết Trung, sinh ngày 24/11/2019 và không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con. Về M sản, anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông đã nhận văn bản của Tòa án gồm Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy báo phiên tòa, quyết định hoãn phiên tòa. Sau khi nhận ông đã thông báo và giao lại cho anh M.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/01/2023 bà Nguyễn Thị H (mẹ đẻ của anh M) trình bày: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị G và anh M là do vợ chồng không hợp nhau. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 5/2022 đến nay. A M có trao đổi với bà là đồng ý ly hôn với chị G. Về con chung Nguyễn Viết Trung, sinh ngày 24/11/2019, từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay con chung ở với anh M và gia đình bà, do bà trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu; đồng thời cháu phát triển tốt về mọi mặt. Anh M và gia đình bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản, anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kết quả xác minh tại UBND xã Quỳnh Diễn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An: Anh Nguyễn Viết M có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm 3, xã Quỳnh Diễn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Viết M đăng ký kết hôn tại UBND xã Quỳnh Diễn. Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng như thế nào địa phương không nắm được do không qua hòa giải tại cơ sở. Nay chị G khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Viết M đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Chị G và anh M đều là lao động tự do nên thu nhập hàng tháng của mỗi người như thế nào thì địa phương không nắm được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, 39 và Điều 48 của BLTTDS; thu thập M liệu chứng cứ đảm bảo đúng quy định, gửi thông báo về việc thụ lý vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp và tống đạt các văn bản cho đương sự đảm bảo. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình đúng và đầy đủ theo quy định tại Điều 51 BLTTDS.
Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định và có đơn xét xử vắng mặt nên xét xử vắng mặt chị G theo quy định của Điều 228 BLTTDS. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định, Tòa án triệu tập phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do đề nghị áp dụng Điều 227 BLTTDS xử vắng mặt anh Nguyễn Viết M.
Về đường lối giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ; Áp dụng Điều 147, Điều 227, 228 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy Ban tG vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Đề nghị xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về tình cảm: Cho chị Nguyễn Thị G được ly hôn với anh Nguyễn Viết M.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Viết T cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng; tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị G.
Về M sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các M liệu có tại hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị G, anh Nguyễn Viết M đăng ký hộ khẩu tại xóm 3, xã Quỳnh Diễn, huyện Quỳnh Lưu theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 BLTDS, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu có thẩm quyền giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị G.
Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp, cùng các M liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất; Quyết định hoãn phiên tòa; thông báo mở lại phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Viết M kết hôn ngày 30/9/2019, đăng ký tại UBND xã Quỳnh Diễn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân giữa chị G và anh M là hợp pháp, tuân thủ các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Trong thời gian chung sống do tính tình không hợp, không cùng quan điểm nên vợ chồng sống tG xuyên xảy ra cãi vã. Quá trình giải quyết Tòa án đã báo anh M đến để hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh M đều vắng mặt. Qua lời trình bày của chị G và lời khai của người thân anh M cho thấy mâu thuẫn giữa chị G và anh M đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị G được ly hôn anh Nguyễn Viết M.
Về con chung: Chị G và anh M có 01 con chung là cháu Nguyễn Viết Trung, sinh ngày 24/11/2019; hiện nay con đang ở với anh M và gia đình anh M. Chị G đề nghị giao con chung cho anh M nuôi; gia đình anh M đề nghị Tòa án giao cháu Trung cho anh M được trực tiếp nuôi. Hiện nay cháu Nguyễn Viết Trung sống với anh M và gia đình đều phát triển tốt về mọi mặt. Vì vậy cần tiếp tục giao cháu Trung cho anh Nguyễn Viết M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp thực tế và đảm bảo sự phát triển về tâm sinh lý cũng như sự phát triển về mọi mặt của cháu. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị G vì anh M không yêu cầu.
Về quan hệ M sản: Các đương sự không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238 và Điều 273 BLTTDS; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban tG vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị G.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị G được ly hôn với anh Nguyễn Viết M.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Viết T, sinh ngày 24/11/2019 cho anh Nguyễn Viết M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị G vì anh M chưa yêu cầu.
Chị Nguyễn Thị G có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012644 ngày 21/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND h.Quỳnh Lưu; - Chi cục THADS h.Quỳnh Lưu; - TAND tỉnh Nghệ An; - UBND xã Q (nơi ĐKKH); - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Hồ Sỹ Mạnh |