vanban.org

Bản án 08/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bá Nữ Thùy T đối với anh La Ngọc Đ về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.

Về hôn nhân: chị Bá Nữ Thùy T được ly hôn với anh La Ngọc Đ; Về con chung: Giao con chung là cháu: La Ngọc Đức H – Sinh ngày: 19-10-2018 và La Ngọc Tú N, sinh ngày: 22-6-2020 chị Bá Nữ Thùy T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bá Nữ Thùy T đối với anh La Ngọc Đ về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/ST- HNGĐ
Ngày: 28-02- 2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Ngọc Minh và bà Lê Thị Hường

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà: bà Lưu Thị Kim Thuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 326/2022/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST–HNGĐ, ngày 22 tháng 02 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 06/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22-02-2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Bá Nữ Thùy T – Sinh năm: 1996 – Có mặt

Hộ khẩu thường trú: khu phố x, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Chỗ ở hiện tại: khu phố y, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Bị đơn: anh La Ngọc Đ – Sinh năm: 1992 – Vắng mặt.

Địa chỉ: khu phố x, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 03-10-2022 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Bá Nữ Thùy T trình bày:

Về hôn nhân: chị và anh Đ kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện N theo giấy chứng nhận kết hôn số 125 ngày 02-8-2013 (giấy chứng nhận kết hôn đã thất lạc). Trong thời kỳ hôn nhân, do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cải nhau, hôn nhân không hạnh phúc. Chị và anh Đ đã không còn chung sống với nhau từ tháng 3/2022 cho tới nay, trong thời gian này không ai còn quan tâm tới ai, mạnh ai người đó sống. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với anh La Ngọc Đ.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị và anh Đ có hai con chung là cháu: Ngọc Đức H – Sinh ngày: 19-10-2018 và La Ngọc Tú N, sinh ngày: 22-6-2020, cháu hiện tại đang do chị nuôi dưỡng, khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Bị đơn trình bày: Bị đơn vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

* Đ diện viện kiểm sát nhân dân huyện N phát biểu về thủ tục tố tụng cũng như nội dung giải quyết vụ án được tóm tắt như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành đúng các thủ tục tố tụng, đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đến lần 2 không có lý do chính đáng nên đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 14; khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bá Nữ Thùy T đối với bị đơn anh La Ngọc Đ về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Buộc chị Bá Nữ Thùy T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng:

. Quan hệ tranh chấp được xác định là: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Bị đơn được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

. Nội dung vụ án:

. Về hôn nhân:

Tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định được chị T và anh Đ kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện N theo giấy chứng nhận kết hôn số 125 ngày 02-8-2018. Thời điểm kết hôn, có đủ điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Do đó, hôn nhân giữa chị T và anh Đ là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Xét lời trình bày của chị T về tình trạng hôn nhân, phù hợp với biên bản xác minh ngày 02-02-2023 của Tòa án nhân dân huyện N nên có đủ cơ sở kết luận: do bất đồng quan điểm sống nên chị T và anh Đ tự ý sống cách xa nhau, trong thời gian gian sống cách xa nhau không ai còn quan tâm tới ai, mạnh ai người đó sống. Mặt khác, anh Đ đã được Tòa án thông báo về việc khởi kiện của chị T nhưng không có ý kiến phản đối.

Từ sự phân tích trên có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh Đ.

. Về con chung: Xét chị T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là có cơ sở bởi lẽ: từ khi sống cách xa nhau, chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu La Ngọc Đức H – Sinh ngày: 19-10-2018 và La Ngọc Tú N, sinh ngày: 22-6-2020, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con.

Tòa án đã giải thích về quyền và nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con, tuy Nên chị T không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[2.4]. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, buộc chị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0002742 ngày 17-10-2022.

. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện N về việc chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xử lý về án phí là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều: 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bá Nữ Thùy T đối với anh La Ngọc Đ về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.

1. Về hôn nhân: chị Bá Nữ Thùy T được ly hôn với anh La Ngọc Đ;

2. Về con chung: Giao con chung là cháu: La Ngọc Đức H – Sinh ngày: 19-10-2018 và La Ngọc Tú N, sinh ngày: 22-6-2020 chị Bá Nữ Thùy T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Người không trực tiếp nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: chị Bá Nữ Thùy T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Bá Nữ Thùy T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002742 ngày 17-10-2022, chị Bá Nữ Thùy T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt Nguyên đơn. Quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Ninh Thuận;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND huyện N;

- Chi cục THADS huyện N;

- UBND thị trấn P;

- Các đương sự;

- Lưu HS, AV.

Trần Văn Tùng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Y Phạm Ngọc Minh

Trần Văn Tùng CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Y Phạm Ngọc Minh

Trần Văn Tùng

Cỡ chữ