- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị P xin ly hôn với anh B"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 08/2023/HNGĐ-ST Ngày: 06/02/2023 |
HUYỆN MỎ CÀY NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Trang Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hiền 2. Bà Lê Thị Thu Hồng - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thư Linh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Hoàng – Kiểm sát viên. Ngày 06 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 285/2022/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 349/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2023 giữa: 1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Trúc P, sinh năm 1993. Nơi cứ trú: Ấp A, xã L, huyện H, tỉnh Đ (vắng mặt). 2. Bị đơn: Anh Đinh Thế B, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện N, tỉnh Bvắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản khai chị Nguyễn Thị Trúc P trình bày: Chị P và anh B tự nguyên tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã xã L, huyện H, tỉnh Đ, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 02/11/2017. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cải vã. Mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 đến nay, mạnh ai nấy sống, không quan
tâm gì đến nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị P xin ly hôn với anh B. Về con chung: Có một con chung là Đinh Nguyễn Bảo V, sinh ngày 14/9/2015, hiện đang sống chung với chị P, chị P yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung khi ly hôn, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Chị P không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Chị P trình bày không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết. Bị đơn là anh Đinh Thế B vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa, anh B không gửi văn bản trình bày ý kiến của anh B về những nội dung có liên quan đến yêu cầu khởi kiện của chị P. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre phát biểu quan điểm cho rằng: Thẩm phán thụ lý, giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử sơ thẩm, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Trúc P, cụ thể: Chị Nguyễn Thị Trúc P được ly hôn với anh Đinh Thế B. Về con chung: Chị P được quyền nuôi người con chung là Đinh Nguyễn Bảo V, sinh ngày 14/9/2015, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.Về tài sản chung, nợ chung: không có yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: [1.1] Căn cứ vào đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Trúc P đối với ông Phạm Văn Thơ thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Quan hệ pháp luật tranh chấp nêu trên được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. [1.2] Anh Đinh Thế B có nơi cư trú tại xã L, huyện N, tỉnh B. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre thụ lý đúng thẩm quyền. [1.3] Chị Nguyễn Thị Trúc P có đơn đề nghị xét xử vắn mặt; anh Đinh Thế B đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và xét xử vắng mặt chị P, anh B theo quy định tại các Điều 207, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. [2] Về nội dung tranh chấp:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Trúc P và anh Đinh Thế B tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh Đ nên được xem là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. [2.2] Chị P cho rằng hôn nhân giữa chị và anh B không hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với anh B. Theo chị P trình bày thì nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi vả và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng mạnh ai nấy sống, không thể hàn gắn tình cảm được. Quá trình Tòa án giải quyết thì anh B không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến về hôn nhân giữa chị P và anh B và cũng không có mặt tại Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhằm mục đích hàn gắn đoàn tụ. Từ đó cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh B đã đến mức trầm trọng, không thể tiếp tục cuộc sống chung của vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị P đối với anh Bảo là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [2.3] Về con chung: Chị P và anh B có một con chung là Đinh Nguyễn Bảo V, sinh ngày 14/9/2015, hiện đang sống chung với chị P, chị P cũng đảm bảo tốt việc nuôi dưỡng con, cháu Bảo V cũng đã thích nghi với môi trường sống và với việc chăm sóc, giáo dục của bà Cúc. Khi được Tòa án hỏi ý kiến thì cháu bảo V có nguyện vọng được sống cùng chị P sau khi chị P và anh B ly hôn. Anh B vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến về việc nuôi con. Do đó, để đảm bảo sự phát triển của cháu Bảo V cả về thể chất lẫn tinh thần, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị P, giao người con là Đinh Nguyễn Bảo V cho chị P trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [2.4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận. [2.5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị P không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và trình bày không có nợ chung; anh B vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để thể hiện ý kiến của anh B về việc yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. [3] Về án phí: Chị P là người khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 147, 227, 228, 271, 273, 278, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Trúc P, cụ thể: 1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Trúc P được ly hôn với anh Đinh Thế B. 2. Về con chung: Giao con chung là Đinh Nguyễn Bảo V, sinh ngày 14/9/2015 cho chị Nguyễn Thị Trúc P trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ghi nhận chị Nguyễn Thị Trúc P không yêu cầu anh Đinh Thế B cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nuôi con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con chung, chị Nguyễn Thị Trúc P, anh Đinh Thế B hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi có lý do chính đáng, chị Nguyễn Thị Trúc P, anh Đinh Thế B có thể thỏa thuận việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, P thức cấp dưỡng nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. 3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu nên không xem xét. 4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Trúc P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số tòa án số 0009651 ngày 28/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre là đủ. 5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án nơi cư trú. “ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận: - Các đương sự (2b) ; (1b) - TAND tỉnh Bến Tre ; - VKSND huyện Mỏ Cày Nam (1b); - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Nam (1b); - UBND xã Long Khánh A, huyện Hồng Ngự, - Lưu HS, VP (2b) TC:8b . CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (1b) tỉnh Đồng Tháp Trần Thị Thu Trang THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |