vanban.org

Bản án 08/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về hôn nhân: Xử cho Chị Phan Thị D được ly hôn với anh Đào Xuân Tr.

[2]. Về con chung: Giao con chung Đào Xuân Minh H, sinh ngày 13/10/2021 cho Chị Phan Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Đào Xuân Tr không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng Chị Phan Thị D và được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, khô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình giữa nguyên đơn chị Phan Thị Diệu, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn Xuân Tây, xã Hộ Độ, Lộc Hà, Hà Tĩnh và bị đơn anh Đà…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về hôn nhân: Xử cho Chị Phan Thị D được ly hôn với anh Đào Xuân Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HNGĐ- ST
Ngày: 09/8/2023
“V/v Tranh chấp ly hôn và giải quyết nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ-TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Hoàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Tùng Long và ông Phan Thanh Dân.

-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Danh Dũng, Thư ký Tòa án.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Hương Kiểm sát viên.

Hôm nay vào hồi 08 giờ 10 phút, ngày 09 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 17/2023/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 6 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn và giải quyết nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST- HNGĐ, ngày 24 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phan Thị D, sinh năm 1997. (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn Xuân T, xã Hộ Đ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Bị đơn: Anh Đào Xuân Tr, sinh năm 1992. (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn Vĩnh Ph, xã Hộ Đ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 08/5/2023, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn Chị Phan Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị D và anh Đào Xuân Tr kết hôn với nhau trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hộ Độ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 26/01/2022, sau khi kết hôn vợ chồng về sinh sống với gia đình bên nội ở Thôn Vĩnh Ph, xã Hộ Đ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Tr thiếu sự quan tâm chăm sóc gia đình vì thế nên vợ chồng không còn tiếng nói chung dẫn đến tình cảm ngày càng lạnh nhạt, xa cách. Vì thế nên vào tháng 08 năm 2022 chị D đã bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Chị nhận thấy đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đào Xuân Tr.

Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là Đào Xuân Minh H, sinh ngày 13/10/2021 hiện nay con chung đang sống cùng chị D và gia đình bên ngoại. Vợ chồng ly hôn chị D có nguyện vọng được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu anh Tr phải cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Bị đơn anh Đào Xuân Tr đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Tr đều vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay anh Tr trình bày: Về hôn nhân anh thống nhất như ý kiến của chị D trình bày về thời gian, điều kiện kết hôn. Anh bổ sung thêm, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 08 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không thể hòa hợp. Nay chị D làm đơn xin ly hôn anh Tr không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là Đào Xuân Minh H, sinh ngày 13/10/2021 hiện nay con chung đang sống cùng với chị D. Trong trường hợp vợ chồng ly hôn anh đồng ý giao con chung Đào Xuân Minh H cho chị D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chị D không yêu cầu anh cũng hoàn toàn đồng ý.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi anh Đào Xuân Tr cư trú thì được ông Trương Quang H - Thôn trưởng thôn Vĩnh Phong, xã Hộ Độ, huyện Lộc Hà cho biết: Vợ chồng anh Đào Xuân Tr và Chị Phan Thị D chung sống hạnh phúc được một thời gian thì thấy chị D bỏ về nhà mẹ đẻ ở thôn Xuân Tây, xã Hộ Độ sinh sống. Kể từ ngày chị D bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống thì không thấy chị trở về chung sống cùng anh Tr nữa. Nguyên nhân theo chúng tôi được biết thì vợ chồng anh Tr và chị D thiếu sự quan tâm chăm sóc, chia sẻ lẫn nhau dẫn đến vợ chồng sống ly thân. Quan điểm của chúng tôi là đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết vụ án để các bên ổn định cuộc sống.

Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn Chị Phan Thị D vẫn giữ nguyên yêu cầu khỏi kiện và không có ý kiến gì bổ sung thêm.

Tại phiên tòa bị đơn anh Đào Xuân Tr không có ý kiến gì tranh luận thêm.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn Chị Phan Thị D đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 71 BLTTDS năm 2015 như giao nộp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án; Nộp tiền tạm ứng án phí theo thông báo của Tòa án; Có mặt làm việc theo thông báo của Tòa án. Bị đơn anh Đào Xuân Tr trong quá trình giải quyết vụ án thì anh không hợp tác làm việc, cũng như không tham gia các buổi hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ là vi phạm quy định tại Điều 72 BLTTDS năm 2015.

Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 55, khoản 1 Điều 56; 57, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn giữa Chị Phan Thị D và anh Đào Xuân Tr.

Về con chung: Giao con chung Đào Xuân Minh H, sinh ngày 13/10/2021 cho Chị Phan Thị D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 BLTTDS năm 2015; điểm a, khoản 1 Điều 24, Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử buộc Chị Phan Thị D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Chị Phan Thị D khởi kiện xin ly hôn với anh Đào Xuân Tr, anh Tr có địa chỉ cư trú tại Thôn Vĩnh Ph, xã Hộ Đ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa Chị Phan Thị D và anh Đào Xuân Tr được xác lập trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ các điều kiện về kết hôn, được Uỷ ban nhân dân xã Hộ Độ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, nên hôn nhân của chị D và anh Tr là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị về chung sống hạnh phúc được gần 08 tháng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn theo chị D trình bày thì do tính cách của vợ chồng không hợp nhau, trong cuộc sống anh Tr thiếu sự quan tâm chăm sóc gia đình dẫn đến vợ chồng không có tiếng nói chung, không ai quan tâm đến ai nữa, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân. Anh Tr không đồng ý ly hôn nhưng kể từ ngày chị D bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống anh không hề có động thái nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị D và anh Tr đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, nên xử chấp nhận ly hôn giữa Chị Phan Thị D và anh Đào Xuân Tr là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình.

.Về con chung: Chị Phan Thị D và anh Đào Xuân Tr có 01 người con chung là cháu Đào Xuân Minh H, sinh ngày 13/10/2021 hiện nay đang sống cùng với chị D và cháu chưa đủ 36 tháng tuổi, vợ chồng ly hôn chị D có nguyện vọng được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chị D không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy nguyện vọng nuôi con chung của chị D là hoàn toàn chính đáng, hơn nữa tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay anh Tr cũng đồng ý để chị D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung vì vậy, để tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định, phát triển bình thường của con chung, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Đào Xuân Minh H cho Chị Phan Thị D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung chị D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.

.Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét.

.Về án phí: Chị Phan Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 55, khoản 1 Điều 56; Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a, khoản 1 Điều 24, điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Phan Thị D.

[1]. Về hôn nhân: Xử cho Chị Phan Thị D được ly hôn với anh Đào Xuân Tr.

[2]. Về con chung: Giao con chung Đào Xuân Minh H, sinh ngày 13/10/2021 cho Chị Phan Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Đào Xuân Tr không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng Chị Phan Thị D và được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cấm hay cản trở.

[3]. Về án phí: Buộc chị Chị Phan Thị D phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng chị D được trừ đi số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012343, ngày 21/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Anh Đào Xuân Tr không phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ