vanban.org

Bản án 08/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi X Tr đối với chị Lương Thị Hương X về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".

Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi X Tr được ly hôn chị Lương Thị Hương X. Về con chung: Giao con chung là Bùi Quốc Kỳ, sinh ngày 22/07/2017 cho anh Tr trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục từ tháng 03/2023 trở đi cho đến khi cháu Kỳ đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Anh Tr ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Xuân Trường- Lương Thị Hương Xuân"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi X Tr đối với chị Lương Thị Hương X về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC SƠN
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29-03-2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN- TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Lê Thị Hồng.

Hội Thẩm Nhân Dân: ông Bùi Văn Tấn; ông Bùi Văn Quyết

- Thư ký phiên toà: ông Bùi Văn Hường- Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn - tỉnh Hoà Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: ông Đinh Thế Tâm- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hoà Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 12/2022/TLST-HNGĐ ngày 11/11/2022 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con". Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/01/2023 và Quyết định hoãn phiên toà số: 02/QĐST-HNGĐ ngày 27/02/2023 giữa:

- Nguyên đơn: Anh Bùi X Tr, sinh năm 1986. Nơi cư trú: xóm Bưng Cọi, xã Hương Nhượng, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình. Vắng mặt;

- Bị đơn: Chị Lương Thị Hương X, sinh năm 1989. Nơi cư trú: xóm Bưng Cọi, xã Hương Nhượng, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn ly hôn và các lời khai của mình, nguyên đơn anh Bùi X Tr trình bày:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lương Thị Hương X kết hôn với nhau tháng 07 năm 2017 trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã Hương Nhượng, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Quá trình chung sống, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, khác biệt về phong tục tập quán. Chị X bỏ nhà đi làm ăn và sống ly thân với anh từ lâu khiến cuộc sống chung luôn căng thẳng, nặng nề không có hạnh phúc, không còn tình cảm với nhau nên anh Tr xin ly hôn.

2. Về con chung: anh Tr và chị X có 01 con chung là Bùi Quốc Kỳ, sinh ngày 22/07/2017. Hiện cháu Kỳ đang sống với bố nên khi ly hôn để tạo điều kiện cho con sinh sống và học tập ổn định, anh Tr đề nghị trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Anh Tr chưa yêu cầu chị X cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản; công nợ chung: anh Tr khai không có.

Ngoài ra anh Tr không có yêu cầu gì thêm.

Chị X vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, không có quan điểm gửi đến Toà án.

Phát biểu quan điểm tại phiên toà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình công nhận việc chấp hành đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, HĐXX và đương sự từ khi thụ lý đến trước khi HĐXX nghị án. Về việc giải quyết vụ án Kiểm sát viên đề nghị như sau:

Về tố tụng: Chị X được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác nhưng không chấp hành, phiên tòa đã phải hoãn một lần. Anh Tr vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị X, anh Tr là có cơ sở theo qui định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Xác định mâu thuẫn giữa anh Tr và chị X đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Tr với chị X là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.

Về con chung: Xét yêu cầu của anh Tr là phù hợp các Điều 58; 81; 82; 83 Luật HN&GĐ năm 2014 nên đề nghị HĐXX chấp nhận.

Về tài sản; Công nợ chung: anh Tr khai nhận không có. Do vậy, đề nghị HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án.

Ngoài ra không ai có ý kiến gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa HĐXX nhận định:

Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Đây là vụ án về việc ly hôn và bị đơn Lương Thị Hương X có nơi cư trú tại xóm Bưng Cọi, xã Hương Nhượng, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình nên theo qui định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.

- Về việc vắng mặt của anh Bùi X Tr và chị Lương Thị Hương X: Chị X vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; Anh Tr vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo qui định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị X, anh Tr theo thủ tục chung.

. Về quan hệ hôn nhân: Quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án HĐXX xét thấy:

Quan hệ hôn nhân giữa anh Tr và chị X là hợp pháp. Cuộc sống chung vợ chồng thực sự có mâu thuẫn do bất đồng về phong cách sống, không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân không còn tình cảm và quan tâm đến nhau. Chị X không đến Tòa thể hiện không có thiện chí hòa giải đoàn tụ vợ chồng, từ bỏ quyền trình bày nguyện vọng của chị trước việc anh Tr xin ly hôn với chị.

Từ những nhận định trên thấy mâu thuẫn giữa anh Tr và chị X đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Tr đối với chị X là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.

. Về con chung: anh Tr và chị X có 01 con chung là Bùi Quốc Kỳ, sinh ngày 22/07/2017. Do hiện cháu Kỳ đang sống với bố nên để tạo điều kiện cho con sinh sống và học tập ổn định, khi ly hôn anh Tr đề nghị trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Kỳ. Anh Tr chưa yêu cầu chị X cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên, điều kiện thực tế và nguyện vọng của đương sự thấy cần chấp nhận yêu cầu về con chung của anh Tr là phù hợp các Điều 58; 81; 82; 83 Luật HN&GĐ năm 2014.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Tr chưa yêu cầu chị X phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung với anh. Theo kết quả xác minh tại địa phương thì hiện anh Tr có đầy đủ điều kiện nuôi con. Căn cứ các Điều 82; 83 Luật HN&GĐ năm 2014 HĐXX xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của anh Tr là phù hợp.

. Về tài sản; công nợ chung: anh Tr khai nhận không có nên HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án.

. Về án phí: Anh Tr phải chịu án phí theo qui định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 51; khoản 1 Điều 56; 58 Luật Hôn Nhân và Gia Đình; Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi X Tr đối với chị Lương Thị Hương X về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi X Tr được ly hôn chị Lương Thị Hương X.

2. Về con chung: Giao con chung là Bùi Quốc Kỳ, sinh ngày 22/07/2017 cho anh Tr trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục từ tháng 03/2023 trở đi cho đến khi cháu Kỳ đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Anh Tr chưa yêu cầu chị X cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn pháp luật vẫn bảo hộ các quyền của cha mẹ với con chưa thành niên (quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở; quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con). Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về tài sản; công nợ chung: không có;

4. Về án phí: Anh Tr phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí anh Tr đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004412 ngày 11/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn, nay anh Tr không phải nộp án phí nữa.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án hoặc trích lục án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai theo qui định.

Tr hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. Người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ