vanban.org

Bản án 08/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị Ngh được ly hôn anh Nguyễn Văn D.

Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thanh D1, sinh ngày 30/9/2016 cho chị Lưu Thị Ngh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và công nợ: Không xem… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nghĩa xin ly hôn anh Diễn"
  • Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị Ngh được ly hôn anh Nguyễn Văn D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN ND HUYỆN G
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HNGĐ - ST
Ngày 20/4/2023
V/v: Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGH VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị H

Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn T

2. Bà Trần Thị L- Nguyên cán bộ hội phụ nữ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế C- Thẩm tra viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G: Ông Phùng Đức D, Kiểm sát viên.

Ngày 20/4/2023, tại Trụ sở Tòa án, Tòa án huyện G, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 46/2022/TLST- HNGĐ ngày 07/12/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 13/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2023/QĐST- HNGĐ ngày 29/3/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lưu Thị Ngh, sinh năm 1987. Có mặt.

HKTT: Khu K, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1985. Vắng mặt.

HKTT: Thôn C, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lưu Thị Ngh trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn D vào năm 2015 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, không bị ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc, đến năm 2017 thì vợ chồng đã nảy sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng hiện nay đã sống ly thân, quan hệ tình cảm không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D.

Về con chung: Quá trình chung sống cùng nhau vợ chồng có con chung là cháu Nguyễn Thanh D1, sinh ngày 30/9/2016. Khi ly hôn chị xin được nuôi dưỡng con chung, cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh D được quyền đi lại, thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải, công khai chứng cứ bị đơn là anh Nguyễn Văn D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh nhất trí với ý kiến của chị Ngh về thời điểm kết hôn. Anh và chị Ngh kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND có thẩm quyền. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc, sau này vợ chồng có nảy sinh mâu thuẫn, tuy nhiên đó chỉ là những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày, vợ chồng hiện đã sống ly thân. Nhưng anh cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn và vì con còn nhỏ nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh và chị Ngh có một con chung là cháu Nguyễn Thanh D1, sinh ngày 30/9/2016 khi ly hôn chị Ngh xin được nuôi dưỡng con chung, anh đồng ý, cấp dưỡng nuôi con, chị Ngh không yêu cầu anh đồng ý. Anh được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và công nợ: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tiến hành xác minh tại địa phương nơi anh D sinh sống, lấy lời khai của đại diện gia đình anh D xác nhận: Chị Ngh và anh D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và được đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã V, quá trình chung sống cùng nhau chị Ngh và anh D có nảy sinh mẫu thuẫn, hiện nay hai người đã sống ly thân, mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không được. Đại diện gia đình chị Ngh cũng có ý kiến trình bày xác nhận mâu thuẫn giữa chị Ngh và anh D là có thật, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, gia đình hai bên không hòa giải được.

Tại phiên tòa chị Ngh vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh D. Về con chung chị xin được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm nghị án là đúng pháp luật. Đối với việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án là đúng pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật, không đến Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập. Đại diện VKS đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xử:

1. Quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị Ngh được ly hôn anh Nguyễn Văn D.

2. Về con chung: Giao con chung cho chị Ngh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Cấp dưỡng nuôi con, tài sản và công nợ không xem xét giải quyết.

3. Về án phí: Chị Ngh phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị Ngh và anh Nguyễn Văn D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và được UBND xã V cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên xác định quan hệ hôn nhân này là hợp pháp. Chị Ngh trình bày quá trình chung sống cùng nhau vợ chồng có nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp. Mâu thuẫn vợ chồng D ra thời gian dài, đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không có kết quả, chị và anh D sống ly thân đã lâu, quan hệ tình cảm không còn.

Xét lời trình bày về mâu thuẫn vợ chồng, về việc vợ chồng sống ly thân, quan hệ tình cảm không còn của chị Ngh phù hợp với lời trình bày của anh D, phù hợp với thực tế được địa phương và đại diện gia đình chị Ngh, anh D xác nhận. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã hòa giải nhiều lần để vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nhưng không có kết quả.

Từ những phân tích trên, HĐXX nhận định: Mâu thuẫn vợ chồng là có thật, mâu thuẫn trở nên trầm trọng, không có biện pháp nào để hòa giải đoàn tụ, đời sống chung vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được; Chị Ngh, anh D không còn duy trì mối quan hệ quan tâm, chăm sóc yêu thương nhau, đơn xin ly hôn của chị Ngh là có căn cứ chấp nhận, nên xử cho chị Ngh được ly hôn với anh D.

Về con chung: Chị Ngh và anh D có một con chung là cháu Nguyễn Thanh D1, sinh ngày 30/9/2016. Khi ly hôn chị Ngh có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, anh D đồng ý. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Ngh, giao con chung cho chị Ngh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và công nợ: Chị Ngh không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có sơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 91, 144, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 51; 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

- Quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị Ngh được ly hôn anh Nguyễn Văn D.

- Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thanh D1, sinh ngày 30/9/2016 cho chị Lưu Thị Ngh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và công nợ: Không xem xét giải quyết.

- Án phí: Chị Lưu Thị Ngh phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số AA/2021/0007128 ngày 07/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Bắc Ninh.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án vắng mặt hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ