vanban.org

Bản án 08/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị Nguyễn Thị H đối với Anh Ngô Văn T.

Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với Anh Ngô Văn T. Về nuôi con chung: Giao hai con chung là Ngô Minh T1, sinh ngày 15/5/2009 và Ngô Thị Minh T2, sinh ngày 04/4/2013 cho Chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận Chị H không yêu cầu Anh T cấp dưỡng nuôi hai con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H yêu cầu ly hôn với anh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị Nguyễn Thị H đối với Anh Ngô Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST
Ngày 31 - 01 - 2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cái Thị Minh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Ngoan.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiệp là Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Mẫn - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 458/2022/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp B, xã G, huyện C, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

Bị đơn: Anh Ngô Văn T, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp B, xã G, huyện C, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/6/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị và Anh Ngô Văn T chung sống với nhau năm 2007, đăng ký kết hôn ngày 21/9/2008 tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến đầu đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do Anh T có người phụ nữ khác bên ngoài, chị có khuyên nhủ nhiều lần nhưng Anh T không thay đổi, công khai đi với người phụ nữ khác. Tuy sống chung nhà nhưng vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm đến nhau nữa. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn về sống chung lại, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với Anh Ngô Văn T.

Về con chung: Con chung có 02 người tên Ngô Minh T1, sinh ngày 15/5/2009 và Ngô Thị Minh T2, sinh ngày 04/4/2013. Chị yêu cầu nuôi hai con chung, không yêu cầu Anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản khi ly hôn.

Nợ chung: Không có.

Từ khi thụ lý vụ án Tòa án nhiều lần triệu tập Anh Ngô Văn T đến để giải quyết vụ án nhưng Anh T vắng mặt không rõ lý do, không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng.

- Về nội dung:

+ Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho Chị H và Anh T được ly hôn.

+ Về con chung: Có 02 người tên Ngô Minh T1, sinh ngày 15/5/2009 và Ngô Thị Minh T2, sinh ngày 04/4/2013. Giao hai con chung cho Chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; ghi nhận Chị H không yêu cầu Anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản: Ghi nhận Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản khi ly hôn.

+ Nợ chung: Ghi nhận Chị H trình bày không có.

+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị H là nguyên đơn, vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Anh T là bị đơn, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do, theo khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xét xử vắng mặt đương sự.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với Anh T; Anh T có hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã G, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và Anh T chung sống với nhau năm 2007, đăng ký kết hôn ngày 21/9/2008 tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện C, tỉnh Tây Ninh nên quan hệ hôn nhân giữa Chị H và Anh T hợp pháp.

Qua lời trình bày của Chị H, biên bản xác minh Công an xã G, huyện C, tỉnh Tây Ninh (bút lục số 29) thấy rằng: Quá trình chung sống thực tế có xảy ra mâu thuẫn, chủ yếu là do Anh T có người phụ nữ khác bên ngoài nên vợ chồng mâu thuẫn, bất hòa trong đời sống vợ chồng. Tuy vẫn sống cùng nhau nhưng không còn quan tâm đến nhau, không có sự đồng nhất về cách nghĩ cũng như về lối sống, sinh hoạt, từ đó thiếu sự tin tưởng và không thông cảm, chia sẻ với nhau làm cho tình cảm vợ chồng bị ảnh hưởng.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập Anh T nhiều lần nhưng Anh T vắng mặt không có lý do và không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải để Chị H và Anh T có cơ hội đoàn tụ. Như vậy, có căn cứ về việc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị H, cho Chị Nguyễn Thị H và Anh Ngô Văn T ly hôn.

Về nuôi con chung: Chị H và Anh T có 02 con chung là Ngô Minh T1, sinh ngày 15/5/2009 và Ngô Thị Minh T2, sinh ngày 04/4/2013. Cháu T1 và cháu T2 có nguyện vọng sống với mẹ sau ly hôn. Chị H yêu cầu nuôi hai con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; Anh T không có ý kiến về con chung. Xét thấy, yêu cầu xin được nuôi hai con chung của Chị H là nguyện vọng chính đáng, có xem xét nguyện vọng của con chung nhằm đảm bảo quyền của các con, do đó giao hai con chung cho Chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; ghi nhận Chị H không yêu cầu Anh T cấp dưỡng nuôi hai con chung.

Về tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản khi ly hôn, Anh T không có ý kiến nên ghi nhận ý kiến của Chị H.

Về nợ chung: Ghi nhận Chị H trình bày không có.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án: Chị H là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; Anh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị Nguyễn Thị H đối với Anh Ngô Văn T.

Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với Anh Ngô Văn T.

2. Về nuôi con chung: Giao hai con chung là Ngô Minh T1, sinh ngày 15/5/2009 và Ngô Thị Minh T2, sinh ngày 04/4/2013 cho Chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận Chị H không yêu cầu Anh T cấp dưỡng nuôi hai con chung.

3. Về tài sản: Ghi nhận Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản khi ly hôn

4. Về nợ chung: Ghi nhận Chị H trình bày không có

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0018015 ngày 29/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tây Ninh. Chị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ