- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "B xin ly hôn với T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Phạm Văn B và bà Đặng Thị Bích T là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST Ngày: 31 – 01 – 2023 V/v không công nhận quan hệ vợ chồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mạc Thị Chiên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trương Ngọc Điệp
2. Bà Nguyễn Hoa Lài
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2023/TL.ST-HNGĐ, ngày 09 tháng 01 năm 2023 về việc tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXX-ST ngày 10 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự.
1. Nguyên đơn: Ông Phạm Văn B (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 4, ấp BX, xã VT, huyện VT, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Bà Đặng Thị Bích T (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp NP 1, xã NNA, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Phạm Văn B trình bày:
Ông và bà Đặng Thị Bích T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu ông và bà T chung sống với nhau rất hạnh phúc, nhưng đến thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Từ đó hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông và bà T đã cố gắng giải quyết nhưng vẫn không được nên đã không còn sống chung. Nhận thấy không thể hàn gắn được tình cảm nên ông khởi kiện yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với bà T.
Về con chung: Có 01 con chung là cháu Đặng Phạm Lê Minh Tiến (nam), sinh ngày 13/02/2017. Ông yêu cầu được nuôi cháu Tiến đến khi thành niên và không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn bà Đặng Thị Bích T trình bày: Bà thống nhất với phần trình bày của ông B về thời gian chung sống, việc không đăng ký kết hôn và về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn. Bà và ông B cũng đã không còn sống chung cách đây 03 tháng. Nay ông B yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng thì bà cũng đồng ý.
Về con chung: Có 01 con chung là cháu Đặng Phạm Lê Minh Tiến (nam), sinh ngày 13/02/2017. Bà đồng ý giao cháu Tiến cho ông B nuôi dưỡng đến khi thành niên và không cấp dưỡng.
Về tài sản chung và về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa, ông B và bà T vắng mặt, có đơn xin yêu cầu vắng mặt tại phiên tòa.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Xác định việc thụ lý, hòa giải, thu thập chứng cứ cũng như thủ tục tố tụng tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Phạm Văn B và bà Đặng Thị Bích T là vợ chồng; Về con chung: Giao cháu Đặng Phạm Lê Minh Tiến (nam), sinh ngày 13/02/2017 cho ông Phạm Văn B được tiếp tục nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi, bà T chưa có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Phạm Văn B và bà Đặng Thị Bích T chung sống như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn theo quy định. Nay hai bên phát sinh mâu thuẫn nên ông B yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với bà T. Căn cứ theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là vụ án hôn nhân và gia đình về việc không công nhận quan hệ vợ chồng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, vắng mặt ông B, bà T nhưng đã có yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông B, bà T là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án:
Xét yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa B và bà T tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức lễ cưới, có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống ông B và bà T phát sinh mâu thuẫn không giải quyết được nên đã không còn chung sống với nhau khoảng 03 tháng. Đến thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết các đương sự vẫn không đăng ký kết hôn theo Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Nay ông B yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với bà T nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không công nhận ông Phạm Văn B và bà Đặng Thị Bích T là vợ chồng.
Về con chung: Ông Phạm Văn B và bà Đặng Thị Bích T thống nhất giao cháu Đặng Phạm Lê Minh T1 (nam), sinh ngày 13/02/2017 cho ông Phạm Văn B được tiếp tục nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi và bà T chưa có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thỏa thuận này là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Bà T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không xem xét giải quyết.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
Về án phí: Ông Phạm Văn B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Phạm Văn B và bà Đặng Thị Bích T là vợ chồng.
2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa ông Phạm Văn B và bà Đặng Thị Bích T về việc giao cháu Đặng Phạm Lê Minh T1 (nam), sinh ngày 13/02/2017 cho ông Phạm Văn B nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi. Bà Đặng Thị Bích T chưa có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Bà T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết, nếu sau này có phát sinh tranh chấp đương sự có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Phạm Văn B phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng). Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ông B đã nộp theo biên lai số 0012336 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm (ông B đã nộp xong).
5. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - Các đương sự; - CQ THA DS h.Châu Thành A; - VKSND h.Châu Thành A; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mạc Thị Chiên |