vanban.org

Bản án 08/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Nh đối với bị đơn ông Phan Hữu T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng Nh được ly hôn với ông Phan Hữu T . Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng Nh "ly hôn" Phan văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Nh đối với bị đơn ông Phan Hữu T.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CĐ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 13-01-2023
V/v “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CĐ- TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thám.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Tạo.

Bà Nguyễn Thị Bích Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh Long An.

Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 485/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng Nh, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp 2, xã PĐ, huyện CĐ, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Ông Phan Hữu T, sinh năm 1982; Địa chỉ: Ấp 2, xã PĐ, huyện CĐ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 05 tháng 9 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Nh trình bày: Bà và ông Phan Hữu T tổ chức hôn lễ cưới vào ngày 16 tháng 10 năm 2003, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PĐ, huyện CĐ ngày 12/3/2004, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 50/2004. Sau khi đăng ký kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn về kinh tế, tính tình, tư tưởng sống không hòa hợp, ông T ăn chơi gây nợ nên vợ chồng thường xuyên cãi vả, hôn nhân vì thế không có hạnh phúc. Bà và ông T mặc dù vẫn sống chung nhà nhưng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể hàn gắn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phan Hữu T. Vợ chồng có một con chung là cháu Phan Hữu Hoàng Ph, sinh ngày 14/8/2004, hiện nay cháu Ph đã thành niên và đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên bà không yêu cầu xem xét giải quyết về con chung. Về tài sản bà Nh xác định tại phiên tòa vợ chồng có căn nhà cấp 4 được xây dựng trên phần đất cha mẹ cho nhưng bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản. Về nợ chung bà xác định không có.

Bị đơn ông Phan Hữu T vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Hồng Nh và ông Phan Hữu T có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân xã PĐ, huyện CĐ cấp giấy chứng nhận kết hôn số 50/2004 ngày 12/03/2004 nên hôn nhân là hợp pháp.

[1.2] Ông Phan Hữu T là bị đơn, hiện nay có hộ khẩu thường trú tại xã PĐ, huyện CĐ nên khi bà Nh có đơn khởi kiện ly hôn, Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh Long An căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

Bị đơn ông Phan Hữu T được Tòa án triệp tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 207, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng Nh:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nh nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T và theo bà Nh thì nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là bất đồng về tư tưởng, lối sống, kinh tế gia đình, ông T ăn chơi gây nợ làm cho hôn nhân không còn hạnh phúc. Bà Nh và ông T mặc dù vẫn còn sống chung nhà nhưng vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Ông T vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án không có ý kiến trình bày cho thấy ông T không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà Nh. Hội đồng xét xử xét thấy, mục đích hôn nhân giữa bà Nh và ông T không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Hồng Nh là có căn cứ được chấp nhận.

Về con chung: Bà Nh và ông T có một con chung là cháu Phan Hữu Hoàng Ph, sinh ngày 14/8/2004, hiện nay cháu Ph đã thành niên và đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Nh không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà Nh xác định không có.

Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng Nh phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Nh đối với bị đơn ông Phan Hữu T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng Nh được ly hôn với ông Phan Hữu T .

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng Nh phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà Nh đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu số 0000708 ngày 28/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CĐ, tỉnh Long An, bà Nh đã nộp đủ.

Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, bà Nguyễn Thị Hồng Nh được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; ông Phan Hữu T vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định của Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ