vanban.org

Bản án 08/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị G được ly hôn với ông Hoàng Văn H. Về con chung: Giao cháu Hoàng Thị Quỳnh H, sinh ngày 18/07/2008 cho bà Nguyễn Thị G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu H thành niên (đủ 18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị G yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Hoàng Văn H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G.
  • Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BUÔN ĐÔN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29/5/2023
“Tranh chấp ly hôn
và nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN – TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phi Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Phượng và ông Y Đưng Knul

- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Ngọc Lương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Y Rin Niê Kdăm – Kiểm sát viên.

Ngày 29/5/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 04/2023/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 01 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/5/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Thôn 4, xã C, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).

- Bị đơn: Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Thôn 4, xã C, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị G trình bày: Bà Nguyễn Thị G và ông Hoàng Văn H đăng ký kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 02/01/2004. Sau khi về chung sống thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc và có 02 (hai) con chung. Tuy nhiên, đến khoảng năm 2010 cho đến nay vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông Hoàng Văn H thường xuyên chởi bới, đe dọa và đánh đập bà Nguyễn Thị G. Gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông Hoàng Văn H vẫn không thay đổi tính tình.

Bà Nguyễn Thị G nhận thấy vợ chồng sống không hợp nhau, không cùng quan điểm sống, không có sự tôn trọng với nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay bà Nguyễn Thị G và ông Hoàng Văn H đã sống ly thân. Vì vậy, bà Nguyễn Thị G yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với ông Hoàng Văn H.

Về con chung: Quá trình chung sống bà Nguyễn Thị G với ông Hoàng Văn H có 02 (hai) con chung, cháu Hoàng Văn C, sinh ngày 28/01/2005 và cháu Hoàng Thị Quỳnh H, sinh ngày 18/07/2008.

Hiện nay cháu Hoàng Văn C đã thành niên nên bà Nguyễn Thị G không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Hoàng Thị Quỳnh H đang ở với bà Nguyễn Thị G tại thôn 4, xã C, huyện Buôn Đôn và bà Nguyễn Thị G có nguyện vọng nhận nuôi cháu Hoàng Thị Quỳnh H đến khi cháu thành niên (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu ông Hoàng Văn H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị G không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị G và ông Hoàng Văn H không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Hoàng Văn H mặc dù đã được Tòa án niêm yết hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án số 04/TB-TLVA, ngày 05/01/2023; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 01/TB-TA, ngày 16/01/2023 và Thông báo về phiên hòa giải số 02/TB-TA, ngày 23/3/2023. Tuy nhiên, ông Hoàng Văn H vắng mặt không có lý do nên không thể tiến hành hòa giải được.

Quá trình thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của bà Nguyễn Thị G và ông Hoàng Văn H. Qua xác minh, đại diện chính quyền địa phương và Chi hội phụ nữ của thôn cung cấp thông tin: Quá trình chung sống vợ chồng bà Nguyễn Thị G, ông Hoàng Văn H đã sống ly thân. Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn đã tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải, phân tích các quy định của pháp luật nhưng bà Nguyễn Thị G vẫn nhất quyết xin được ly hôn với ông Hoàng Văn H. Do đó căn cứ Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn đưa vụ án ra xét xử.

- Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với bị đơn ông Hoàng Văn H vắng mặt là vi phạm về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị G được ly hôn với ông Hoàng Văn H.

Về con chung: Đề nghị giao cháu Hoàng Thị Quỳnh H, sinh ngày 18/07/2008 cho bà Nguyễn Thị G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu H thành niên (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị G không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị G và ông Hoàng Văn H không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị G phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định về nội dung vụ án như sau:

Về tố tụng: Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Hoàng Văn H cư trú tại thôn 4, xã C, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Quá trình tố tụng, bị đơn ông Hoàng Văn H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị G và ông Hoàng Văn H kết đăng ký kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Buôn Đôn vào ngày 02/01/2004. Quá trình chung sống giữa bà Nguyễn Thị G và ông Hoàng Văn H phát sinh nhiều mâu thuẫn và bất đồng quan điểm. Hiện nay bà G và ông H sống ly thân và không quan tâm và chăm sóc gì nhau. Căn cứ kết quả xác minh cũng như ý kiến trình bày của đương sự có đủ cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân giữa bà G và ông H đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung của vợ chồng không thể kéo dài. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị G được ly hôn với ông Hoàng Văn H.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà Nguyễn Thị G và ông Hoàng Văn H có 02 (hai) con chung: cháu Hoàng Văn C, sinh ngày 28/01/2005 và cháu Hoàng Thị Quỳnh H, sinh ngày 18/07/2008. Hiện nay cháu Hoàng Văn C đã thành niên (trên 18 tuổi), quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị G không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với cháu Hoàng Thị Quỳnh H: Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/01/2023 (bút lục số 25) cháu Hoàng Thị Quỳnh H trình bày muốn được ở với bà Nguyễn Thị G để thuận lợi trong việc sinh hoạt và đi học.

Tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Hội đồng xét xử xét thấy: Qua xác minh tại địa phương và phần trình bày của đương sự thì cháu Hoàng Thị Quỳnh H hiện nay đang sinh sống cùng với bà Nguyễn Thị G tại thôn 4, xã C, huyện Buôn Đôn. Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị G cũng có nguyện vọng nhận nuôi cháu Hoàng Thị Quỳnh H đến khi cháu Hoa thành niên (đủ 18 tuổi). Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 81, khoản 1, khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Hoàng Thị Quỳnh H cho bà Nguyễn Thị G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu H thành niên (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị G không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị G và ông Hoàng Văn H không yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị G phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, khoản 4 Điều 147, Điều 203, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị G được ly hôn với ông Hoàng Văn H.

2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Thị Quỳnh H, sinh ngày 18/07/2008 cho bà Nguyễn Thị G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu H thành niên (đủ 18 tuổi).

Ông Hoàng Văn H có quyền thăm nom con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị G không yêu cầu giải quyết.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị G và ông Hoàng Văn H không yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung không có nên không đề cập giải quyết.

5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị G phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0019224 ngày 05 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị G có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Hoàng Văn H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ