vanban.org

Bản án 08/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Nguyễn Hoàng A về việc tranh chấp “Ly hôn”

Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Nguyễn Hoàng A được ly hôn với ông Nguyễn Văn B. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh C cho bà Võ Nguyễn Hoàng A tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mỹ-Long"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Nguyễn Hoàng A về việc tranh chấp “Ly hôn”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ GIA MẬP
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST
Ngày 30-6-2023
V/v: Tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Phú Vinh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mùa

Ông Phan Tấn Lãm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tham gia phiên toà: Ông Dương Xuân Chính - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 24/2023/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/QĐST–HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Nguyễn Hoàng A, sinh năm 2003 (có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1997 (Có đơn giải quyết vắng mặt)

Cư trú: Thôn BT 1, xã PM, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 01 năm 2023; Bản tự khai; Biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Võ Nguyễn Hoàng A trình bày:

Bà Võ Nguyễn Hoàng A và ông Nguyễn Văn B tự nguyện chung sống với nhau, sau đó có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã PM, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước vào ngày 28 tháng 4 năm 2022. Thời gian đầu chung sống, vợ chồng hạnh phúc, đến tháng 6 năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, ông B không chịu làm ăn và còn nghiện ma túy. Nay bà A xác định tình cảm không còn, hôn nhân không có hạnh phúc từ lâu không còn ai quan tâm đến ai, bà A và ông B đã sống ly thân với nhau từ tháng 6 năm 2022 cho đến nay, hiện nay bà A và ông B mỗi người sống một nơi. Do đó, bà A yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập giải quyết được ly hôn với ông Nguyễn Văn B.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà A và ông B có 01 người con chung là cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 26 tháng 10 năm 2020, sau khi ly hôn bà A yêu cầu được nuôi con chung là Nguyễn Minh C cho đến khi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung: Bà A không yêu cầu.

Bị đơn ông Nguyễn Văn B vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tuy nhiên ông B đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt đề ngày 16 tháng 6 năm 2023.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa :

Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự thủ tục và đảm bảo quyền lợi của các đượng sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, 36, 39; 40 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Võ Nguyễn Hoàng A.

Về con chung: Giao người con chung là Nguyễn Minh C, sinh ngày 26 tháng 10 năm 2020 cho bà Võ Nguyễn Hoàng A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Các vấn đề khác giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Xác định đây là vụ án tranh chấp“Ly hôn” do bà Võ Nguyễn Hoàng A đứng đơn khởi kiện, bị đơn là ông Nguyễn Văn B cư trú tại: Thôn BT 1, xã PM, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36, 39, 40 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

Về việc vắng mặt đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Văn B vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần, nên xem như ông B từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, đến ngày 16 tháng 6 năm 2023 ông B có Đơn xin giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông B theo thủ tục chung.

Phân tích nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Theo lời trình bày của nguyên đơn là bà A cho thấy, bà và ông B tự nguyện chung sống với nhau trước và sau đó có đăng ký kết hôn tại UBND xã PM, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước vào ngày 28 tháng 4 năm 2022. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông B được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình thu thập chứng cứ, bà A cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, ông B không chịu làm ăn chăm lo cho gia đình, nghiện ma túy, do đó vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau và không tìm được tiếng nói chung, bà và ông B đã cố gắng hòa giải, khuyên bảo ông B nhiều lần nhưng không được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn.

Tại phiên tòa, ông B có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt và không có ý kiến gì trước yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn của bà A. Hơn nữa, bà A và ông B đã ly thân với nhau từ tháng 6 năm 2022 và hiện nay ông đang đi cai nghiện. Hội đồng xét xử thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà A và ông B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, từ lâu không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà A.

Về con chung: Trong thời gian sống chung, bà A và ông B có 01 người con chung là cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 26 tháng 10 năm 2020, Quá trình thu thập chứng cứ cũng như lời khai của bà A có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu C cho đến khi đủ 18 tuổi, hiện nay do cháu đang còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi và đang được bà A nuôi dưỡng. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho cháu Khôi nghĩ cần thiết phải tiếp tục giao cháu C cho bà A tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp với pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Bà A phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 36; Điều 39; Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Nguyễn Hoàng A về việc tranh chấp “Ly hôn”

2. Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Nguyễn Hoàng A được ly hôn với ông Nguyễn Văn B.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh C cho bà Võ Nguyễn Hoàng A tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi cho con.

- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

3. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Võ Nguyễn Hoàng A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006433 ngày 13 tháng 3 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ