vanban.org

Bản án 08/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị Lan C .

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị Lan C được ly hôn anh Vàng Seo Q. Mối quan hệ hôn nhân của chị Lý Thị Lan C và anh Vàng Seo Q được chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Về nuôi con khi ly hôn: Giao cho chị Lý Thị Lan C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vàng Thị T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Thị Lan Ch - Vàng Seo Q"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị Lan C .
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HNGĐ- ST
Ngày: 14 - 7 -2023
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI.

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thọ

Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Nguyễn Thị Thanh

+ Bà Trần Thị Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2023. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 38/2023/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 05 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXX- ST, ngày 28 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Lý Thị Lan Ch - sinh năm:1999 .

Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2.Bị đơn: Anh Vàng Seo Q - sinh năm 1994

Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ly hôn nhận ngày 05 tháng 5 năm 2023 và bản tự khai tiếp theo nguyên đơn chị Lý Thị Lan Ch trình bày: Chị và anh Q về chung sống với nhau từ năm 2013 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Đến ngày 23/10/2017 anh chị mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã L (nay là xã L), huyện B, tỉnh Lào Cai. Trong quá trình chung sống anh chị sống hòa thuận, hạnh phúc được mấy năm đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, mỗi người một ý kiến khác nhau trong quan điểm làm ăn, anh Q không tin tưởng vợ thường hay ghen tuông vô cớ và đánh, chửi chị không rõ lý do. Từ những nguyên nhân đó dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra đánh, cãi nhau. Khi anh chị xảy ra mâu thuẫn đã được gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuốc sống chung không có hạnh phúc. Đầu năm 2023 chị Ch đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ đó cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị và anh Q ngày càng trầm trọng, tình cảm không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Nên chị C làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vàng Seo Q.

Tại bản tự khai ngày 12 tháng 05 năm 2023 bị đơn anh Vàng Seo Q trình bày: Anh hoàn toàn nhất trí về thời gian kết hôn, quá trình chung sống như chị C trình bày. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh và chị C là do không có tiếng nói chung trong làm ăn, phát triển kinh tế và cách nuôi dạy con cái. Năm 2022 anh và chị C cùng nhau đi làm thuê tại Vĩnh Phúc, trong thời gian anh đi công trình làm thì chị C đã nảy sinh tình cảm với người khác, giữa anh chị đã xảy ra cãi, chửi lẫn nhau, do tức giận anh có đập điện thoại của chị C, khi anh góp ý thì chị C đã xin lỗi anh, vì nghĩ về con cái nên anh đã tha thứ cho chị C. Anh không hiểu vì lý do gì đến đầu năm 2023 chị C bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở và không về nhà, anh đã đi đón nhưng chị C không chịu về nhà, nhưng mâu thuẫn giữa anh và chị C chưa đến mức trầm trọng, anh vẫn còn tình cảm với chị C, anh mong muốn vợ chồng về đoàn tụ gia đình để cùng nhau nuôi dạy con cái trưởng thành. Nay chị C làm đơn xin ly hôn anh, anh xét thấy tình cảm giữa anh và chị C vẫn còn, nên anh không nhất trí ly hôn.

- Về nuôi con khi ly hôn: Chị C và anh Q đều thừa nhận trong thời gian sống chung có 03 con chung là cháu lớn là Vàng Quốc D, sinh ngày 31 tháng 12 năm 2014. Hai cháu sinh đôi tên là Vàng Thị Tuyết H và Vàng Thị Hằng Ng, đều sinh ngày 24 tháng 9 năm 2016. Hiện nay các cháu đang sống cùng với anh Q, các cháu đều khỏe mạnh và phát triển bình thường.

Khi ly hôn chị Ch đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi hai cháu Tuyết H và cháu Hằng Ng, còn anh Q nuôi cháu D, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị không yêu cầu anh Quáng phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Vàng Seo Q mong muốn vợ chồng về đoàn tụ gia đình. Nếu chị Ch kiên quyết ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được nuôi cả ba cháu, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, anh yêu cầu chị Ch phải cấp dưỡng nuôi hai cháu sinh đôi là cháu Tuyết H và cháu Hằng Ng mỗi tháng 3.000.000 đồng, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Chị Ch và anh Q không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôn nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử xử:

+ Về hôn nhân: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình: Chị Lý Thị Lan Ch được ly hôn anh Vàng Seo Q.

+ Về con chung: Căn cứ Điều 81,Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình: Giao cho chị Lý Thị Lan C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vàng Thị Tuyết H và Vàng Thị Hằng Ng, đều sinh ngày 24 tháng 9 năm 2016. Giao cho anh Vàng Seo Q được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vàng Quốc D, sinh ngày 31 tháng 12 năm 2014, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Chị C vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị.

- Anh Q nhất trí ly hôn, nhưng với điều kiện chị Ch phải nuôi cả ba con và anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh trụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Chị Lý Thị Lan C khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vàng Seo Q, giải quyết về nuôi con chung khi ly hôn. Anh Q có hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã Lùng Ph, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

Tại phiên tòa hôm nay chị Lý Thị Lan C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nên căn cứ vào khoản 1 điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị Lan C và anh Vàng Seo Q về chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 2013, được hai bên gia đình đồng ý và tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán, đến ngày 23 tháng 10 năm 2017 anh chị đã đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã L (nay là xã L), huyện Bắc Hà. Trong quá trình sống chung anh chị sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng bảy năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng ý kiến trong việc phát triển kinh tế gia đình và nuôi dạy con cái, trong cuộc sống anh chị chưa có sự cảm thông, tin tưởng nhau, chia sẻ cho nhau những khó khăn. Giữa hai anh chị đã xảy ra xính mích đánh, cãi chửi lẫn nhau, thiếu sự tôn trọng lẫn nhau. Từ những nguyên nhân đó dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, khi anh chị xảy ra mâu thuẫn đã được gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả. Chị C và anh Q đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị C làm đơn xin ly hôn anh Q. Anh Q xét thấy mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng, tình cảm vẫn còn, nên anh mong muốn vợ chồng về đoàn tụ gia đình để cùng nhau nuôi dạy con cái, anh không nhất trí ly hôn. Tại phiên Tòa án anh Q có ý kiến nhất trí ly hôn, nhưng với điều kiện chị C phải nuôi cả ba con, anh không phải cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa chị C vắng mặt nhưng có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa chị C và anh Q rất khó dung hòa tình cảm vợ chồng, gia đình đã khuyên giải và Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện tại anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai. Như vậy, đã đủ thấy rằng mâu thuẫn giữa hai anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xử cho chị C được ly hôn với anh Q là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Quan hệ hôn nhân của chị Lý Thị Lan C và anh Vàng Seo Q được chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về nuôi con khi ly hôn: Cả hai anh chị đều thừa nhận có 03 con chung. Cháu lớn là Vàng Quốc D, sinh ngày 31 tháng 12 năm 2014. Hai cháu sinh đôi tên là Vàng Thị Tuyết H và Vàng Thị Hằng Ng, đều sinh ngày 24 tháng 9 năm 2016. Hiện nay cả ba cháu đang sống cùng với anh Q, các cháu đều khỏe mạnh và phát triển bình thường.

Tại phiên hòa giải và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì chị C có nguyện vọng xin được nuôi cháu H và cháu Ng, còn anh Q nuôi cháu D, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Q đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được nuôi cả ba cháu, anh yêu cầu chị C phải cấp dưỡng nuôi hai cháu sinh đôi là cháu Tuyết H và cháu Hằng Ng mỗi tháng 3.000.000 đồng, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Ch và anh Q đều có nguyện vọng xin được nuôi con, chị C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, còn anh Q yêu cầu chị C phải cấp dưỡng nuôi cháu Nga mỗi tháng là 3.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hỏi ý kiến của cháu D thì cháu có nguyện vọng muốn được sống cùng với anh Q. Đối với cháu Ng và cháu H thì còn nhỏ. Chị C và anh Q đều làm nghề tự do, có mức thu nhập ngang nhau, cả hai anh chị đều có điều kiện để nuôi dạy con trưởng thành và đảm bảo cho sự phát triển của các cháu.Tuy nhiên, xét điều kiện hiện tại anh Q có nguyện vọng xin được nuôi cả ba cháu và yêu cầu chị C phải cấp dưỡng nuôi cháu Ng mỗi tháng là 3.000.000 đồng, tại phiên tòa anh Q thay đổi ý kiến đề Tòa án nghị giải quyết cho chị C nuôi cả ba cháu, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét yêu cầu của anh Q là không phù hợp với quy định của pháp luật và không phù hợp với điều kiện kinh tế của chị C, không đảm bảo được việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và lo toan cuộc sống sinh hoạt hàng ngày cho cả ba cháu được. Mặt khác, xét thấy các cháu H, Ng còn nhỏ, là con gái cần có sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ nhiều hơn bố. Nên, xét nguyện vọng của chị C xin được nuôi cháu H và cháu Ng, còn anh Q nuôi cháu D, chị không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con chung là hoàn toàn phù hợp với quy định của Pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của các cháu. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi cho các cháu D, Ng, H cũng như trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái. Nên căn cứ vào Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình cần giao cho chị Lý Thị Lan C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vàng Thị Tuyết H và Vàng Thị Hằng Ng, đều sinh ngày 24 tháng 9 năm 2016. Giao cho anh Vàng Seo Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vàng Quốc D, sinh ngày 31 tháng 12 năm 2014, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị Lý Thị Lan C và anh Vàng Seo Q không đề nghị Toà án giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lý Thị Lan C phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Về quyền kháng cáo: Chị Lý Thị Lan C và anh Vàng Seo Q được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị Lan C .

1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị Lan C được ly hôn anh Vàng Seo Q. Mối quan hệ hôn nhân của chị Lý Thị Lan C và anh Vàng Seo Q được chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2.Về nuôi con khi ly hôn: Giao cho chị Lý Thị Lan C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vàng Thị Tuyết H và Vàng Thị Hằng Ng, đều sinh ngày 24 tháng 9 năm 2016. Giao cho anh Vàng Seo Q được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vàng Quốc D, sinh ngày 31 tháng 12 năm 2014, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con; mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lý Thị Lan C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghin

̀ đồng) tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng), theo biên lai

̀ số 0004091, ngày 08 tháng 5 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B ắc Hà. Chị C đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, Chị C vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết. Anh Q có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ