- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Huy H - Nguyễn Thị N"
- Tòa quyết gì? Xử: 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Huy H đối với chị Nguyễn Thị N. Cho anh Lê Huy H được ly hôn chị Nguyễn Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08 /2023/HNGĐ-ST Ngày: 09/01/2023 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hoan; Ông Nguyễn Đại Huy
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thuý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba
Vì, thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thái Bình - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09/01/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 362/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2022/QĐXX-ST ngày 02 tháng 12 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2022/QĐ-ST ngày 29 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Anh Lê Huy H, sinh năm 1989
Địa chỉ: Thôn Bằng T, xã CL, huyện Ba Vì, t.p Hà Nội.
+ Bị đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn Bằng T, xã CL, huyện Ba Vì, t.p Hà Nội.
(Anh H có mặt, chị N vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn ngày 13/08/2022, bản tự khai ngày 03/10/2022 Anh Lê Huy H trình bày: Anh Lê Huy H kết hôn với chị Nguyễn Thị N trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã CL, huyện Ba Vì, ngày 12/02/2019. Sau khi kết hôn anh H và chị N về chung sống tại gia đình anh H ngay, tình cảm vợ chồng hạnh phúc được thời gian năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm nên chị N tự ý bỏ nhà đi nhiều lần, mặc dù anh H và gia đình cũng đã khuyên bảo nhưng chị N không trở về. Anh H và chị N sống ly thân từ cuối năm 2021 cho đến nay. Nay anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị N.
- Về con chung: Không có con chung.
- Về Tài sản chung, công sức, tài sản riêng, nợ chung: Anh H xác định vợ chồng không có tài sản chung, công sức, tài sản riêng, nợ chung.
Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ nhiều lần nhưng chị Nguyễn Thị N đều vắng mặt không có lý do. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã nhiều lần triệu tập chị Nguyễn Thị N, tống đạt thông báo thụ lý và các giấy triệu tập đương sự, chị N đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng không chấp hành pháp luật, vắng mặt không có lý do, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, vụ án không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã thực hiện các thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật và tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của anh Lê Huy H và chị Nguyễn Thị N tại xã CL.
Tại biên bản xác minh ngày 26/10/2022. Ủy ban nhân dân xã CL và biên bản lấy lời khai ngày 26/10/2022 của ông Nguyễn Hữu Dương (bố đẻ Chị Nguyễn Thị N) đều cung cấp thông tin: Anh H và chị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu vào năm 2020 và cùng chung sống tại thôn Bằng, xã CL. Tuy nhiên cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra cãi chửi, xô xát, vợ chồng bất đồng quan điểm, anh H và chị N đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay anh Lê Huy H vẫn giữ nguyên quan điểm của mình xin được ly hôn Chị Nguyễn Thị N. Về con chung, tài sản chung, tài sản riêng, công nợ anh đều xác định không có. Đối với chị Nguyễn Thị N vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập tham gia phiên tòa đối với chị Nguyễn Thị N,
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tại phiên tòa: Việc thụ lý và giải quyết, thu thập chứng cứ trong vụ án ly hôn của Tòa án là đúng theo các quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Huy H, cho anh H được ly hôn chị Nguyễn Thị N. Về con chung: Không có. Nên không đề nghị giải quyết. Về tài sản chung, công sức, tài sản riêng, công nợ: Chưa xem xét giải quyết trong vụ án.
Án phí: Anh Lê Huy H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Anh Lê Huy H khởi kiện xin ly hôn chị Nguyễn Thị N có hộ khẩu thường trú: thôn Bằng T, xã CL, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, việc Tòa án nhân dân huyện Ba Vì thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xét về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Huy H kết hôn với chị Nguyễn Thị N ngày 12/02/201 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã CL, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về ăn ỏ cùng nhau ngay, tình cảm vợ chồng hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do cuộc sống vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, hay cãi nhau, chị N nhiều lần bỏ nhà đi. Anh H và chị N đã ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm từ năm 2021 cho đến nay. Nay anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn xin được ly hôn chị N. Đối với chị Nguyễn Thị N, tại phiên tòa hôm nay chị N vắng mặt không lý do, trong quá trình giải quyết vụ án chị N đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị N vẫn vắng mặt không lý do, do vậy chị tự đánh mất quyền và lợi ích hợp pháp của mình được pháp luật bảo vệ. Xét nguyện vọng xin ly hôn của anh H, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa anh H và chị N đã đến mức trầm trọng, vợ chồng sống ly thân đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần áp dụng Điều 56 Luật HNGĐ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H, cho anh Lê Huy H được ly hôn chị Nguyễn Thị N là phù hợp và có căn cứ, đúng pháp luật.
Về con chung: Anh H xác định không có con chung.
Về tài sản chung, công sức, tài sản riêng, công nợ: Anh H xác định không có. Chị Nguyễn Thị N chưa có lời trình bày tại Tòa án nên HĐXX xem xét giành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu là phù hợp quy định pháp luật.
Về án phí: Anh Lê Huy H phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227,Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.
Xử: 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Huy H đối với chị Nguyễn Thị N. Cho anh Lê Huy H được ly hôn chị Nguyễn Thị N.
2/ Về con chung: Không có.
3/ Về tài sản chung, công sức, tài sản riêng, nợ chung: Chưa giải quyết.
4/ Về án phí: Anh Lê Huy H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. anh H đã nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai số 0060426 ngày 03/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì. Nay được khấu trừ toàn bộ vào số tiền án phí mà anh H phải nộp.
5/ Quyền kháng cáo: Anh Lê Huy H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Chị Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật.
“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội - VKSND huyện Ba Vì - UBND xã CL - Người tham gia tố tụng - THA dân sự - Lưu hồ sơ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Dung |