- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Kim L - Nguyễn Minh T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08 /2023/HNGĐ-ST Ngày: 28 – 02 – 2023 V/v: “Không công nhận vợ chồng, tranh chấp về nuôi con ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đường Nguyễn Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Thu Thủy – Bà Lê Thái Thị Kim Vân
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Cao Nhật Hạ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang- Tháp Chàm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang- Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023 tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 861/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2022 về việc “ Không công nhận vợ chồng,tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐST- HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim L, sinh năm 1979 (có mặt)
Địa chỉ: Khu phố X, thị trấn D, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1980 (có mặt)
Địa chỉ: Khu phố Y, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/11/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị Kim L trình bày:
Bà và ông Nguyễn Minh T chung sống với nhau năm 2008, có tổ chức cưới hỏi nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2018 xảy ra mâu thuẫn; nguyên nhân do ông T thường xuyên nhậu nhẹt, không chịu làm ăn; không quan tâm chăm sóc gia đình. Vợ chồng đã không còn sống chung với nhau từ năm 2021 đến nay; trong khoảng thời gian ly thân vợ chồng không có liên lạc với nhau, không ai quan tâm đến ai, mạnh ai nấy sống. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông Nguyễn Minh T nên yêu cầu Tòa án xét xử không công nhận bà và ông Nguyễn Minh T là vợ chồng.
Về con chung: Bà và ông Nguyễn Minh T có 01 con chung tên Nguyễn Phạm Trọng H, sinh ngày 22/9/2009. Hiện con đang sống cùng bà vì vậy đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 10 tháng 02 năm 2023, bị đơn ông Nguyễn Minh T trình bày:
Ông và bà Phạm Thị Kim L chung sống với nhau từ năm 2008 nhưng không đăng ký kết hôn, cuộc sống chung không hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn. Nay bà Phạm Thị Kim L không còn tình cảm, không còn muốn chung sống với ông mà y u cầu Tòa án không công nhận ông và bà L là vợ chồng thì ông cũng đồng ý.
Về con chung: Ông và bà Phạm Thị Kim L có 01 con chung tên Nguyễn Phạm Trọng H, sinh ngày 22/9/2009. Ông đồng ý để cho bà Phạm Thị Kim L tiếp tục nuôi dưỡng con chung theo nguyện vọng của con. Ông không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận phát biểu:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp, tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phi n tòa sơ thẩm. Nguy n đơn, bị đơn đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận bà Phạm Thị Kim L và ông Nguyễn Minh T là vợ chồng.
Về con chung: Giao con chung Nguyễn Phạm Trọng H, sinh ngày 22/9/2009 cho bà Phạm Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng; ông Nguyễn Minh T không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do bà Phạm Thị Kim L không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Quan hệ pháp luật vụ kiện là “không công nhận vợ chồng, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, được quy định tại khoản 7 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Phạm Thị Kim L và ông Nguyễn Minh T chung sống với nhau vào năm 2008 nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm vào khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rõ: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 điều 14 Luật này, nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”. Như vậy, bà Phạm Thị Kim L và ông Nguyễn Minh T mặc dù có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định mối quan hệ giữa bà Phạm Thị Kim L và ông Nguyễn Minh T không phải là quan hệ vợ chồng.
Về con chung:
Bà Phạm Thị Kim L và ông Nguyễn Minh T có 01 con chung tên Nguyễn Phạm Trọng H, sinh ngày 22/9/2009. Hiện nay, con chung đã tr n 07 tuổi và có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Tại phiên hòa giải ngày 10/02/2023, bà Phạm Thị Kim L và ông Nguyễn Minh T đã thống nhất giao con chung cho bà Phạm Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà L không yêu cầu. Tại phiên tòa, ông Nguyễn Minh T và bà Phạm Thị Kim L vẫn giữ nguyên thỏa thuận. Vì vậy, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, giao con chung Nguyễn Phạm Trọng H, sinh ngày 22/9/2009 cho bà Phạm Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng; ông Nguyễn Minh T không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do bà L không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị Kim L và ông Nguyễn Minh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của BLTTDS năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Phạm Thị Kim L phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; Khoản 1 điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự; Các điều 14, 15, 53, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguy n đơn bà Phạm Thị Kim L;
Tuyên bố: Không công nhận bà Phạm Thị Kim L và ông Nguyễn Minh T là vợ chồng.
2. Về con chung:
Công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự: Giao con chung tên Nguyễn Phạm Trọng H, sinh ngày 22/9/2009 cho bà Phạm Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Minh T không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do bà Phạm Thị Kim L không yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí:
Bà Phạm Thị Kim L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0004733 ngày 16/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Bà Phạm Thị Kim L đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm. Nguy n đơn, bị đơn có mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/02/2023)./.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Ninh Thuận; - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND TP. Phan Rang- Tháp Chàm; - CC THADS TP.Phan Rang-Tháp Chàm; - Các đương sự; - Lưu HS +Án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đường Nguyễn Thanh Thảo |