- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản ăn ly hôn Cao Văn T; Nguyễn Thị Tr"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của anh Cao Văn T và chị Nguyễn Thị Tr.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sựchấp nhận tự thỏa thuận bằng văn bản
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/DSST - HNGĐ. Ngày: 03 – 4 - 2023 V/v: “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Dần
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đinh Xuân Phầu
2. Bà Trần Thị Phúc Tuệ
Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thu Hiền– Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình: không tham gia.
Ngày 03 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 108/2022/TLST - HNGĐ ngày 27/12/2022 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐST- DS ngày 20/3/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Cao Văn T - Sinh năm: 1970
Nơi ĐKNKTT: Thôn Đồng G, xã Đồng H, huyện Tuyên H, tỉnh Quảng Bình (Có mặt)
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Tr - Sinh năm: 1978
Nơi ĐKNKTT: Ấp 6, xã Trung Ngh, huyện Vũng L, tỉnh Vĩnh Long
Hiện tạm trú tại: 260 Mả L, Phường Bình Trị Đ, Quận Bình T, thành phố Hồ Chí Minh ( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 18/11/2022, bản tự khai ngày 21/02/2023 anh Cao Văn T và bản tự khai ngày 02/3/2023 của chị Nguyễn Thị Tr thì anh Cao Văn T và chị Nguyễn Thị Tr khai: Tôi (Cao Văn T) và chị Nguyễn Thị Tr tìm hiểu để đi đến kết hôn với nhau do hai bên hoàn toàn tự nguyện không có ai ép buộc, đã đăng ký kết hôn ngày 14/02/2000 tại UBND thị trấn Mộ Đ, huyện Mộ Đ, tỉnh Quảng Ng. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống chung tại gia đình nội ở thôn Đồng G, xã Đồng H, huyện Tuyên H, tỉnh Quảng Bình được 06 tháng thì vợ chồng làm nhà riêng tại thôn Đồng G, xã Đồng H, huyện Tuyên Hóa. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2006 thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã lẫn nhau nhưng hai bên không khắc phục được nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng chị Tr đã nhà bỏ đi vào các tỉnh phía nam làm ăn, anh T đã vào tìm kiếm và gặp chị Tr trao đổi để vợ chồng trở về chung sống hạnh phúc và nuôi con, nhưng chị Tr không đồng ý. Vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Hiện tình cảm vợ chồng thực sự không còn nữa nên anh Cao Văn T và chị Nguyễn Thị Tr nhất trí ly hôn. Do chị Tr không về được nên hai bên nhất trí chọn Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình để giải quyết và chị Trang làm đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Về con chung của vợ chồng: Anh Cao Văn T và chị Nguyễn Thị Tr thừa nhận vợ chồng có với nhau một đứa con chung tên là: Nguyễn Anh T – Sinh ngày: 01/11/2000 từ khi vợ chồng ly thân con ở với anh T. Hiện đã khôn lớn, trưởng thành và có việc làm ổn định nên vợ chồng có trách nhiệm chung nên nghĩa vụ nuôi con và cấp dưỡng tiền nuôi con không đặt ra.
Về tài sản và công nợ chung của vợ chồng: Anh Cao Văn T và chị Nguyễn Thị Tr thừa nhận vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
Án phí anh Cao Văn T đã nộp số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng)theo biên lai số: 0000173, ngày 27/12/2022 nay xin chịu toàn bộ.
Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình đã thụ lý vụ án theo đơn thuận tình ly hôn của anh Cao Văn T và chị Nguyễn Thị Tr. Do tính chất công việc nên chị Trang không về tại Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình để giải quyết mà làm đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án không tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Cao Văn T có hộ khẩu thường trú tại thôn Đồng G, xã Đồng H, huyện Tuyên H, tỉnh Quảng Bình. Chị Nguyễn Thị Tr có hộ khảu tạiẤp 6, xã Trung Ngh, huyện Vũng L, tỉnh Vĩnh L. Anh Văn T và chị Nguyễn Thị Tr tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nhân dân huyện Tuyên H, tỉnh Quảng Bình nơi cư trú của anh Cao Văn T giải quyết vụ án vàchị Nguyễn Thị Tr có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 39,khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sựchấp nhận tự thỏa thuận bằng văn bản của anh Cao Văn T và chị Nguyễn Thị Tr yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình giải quyết ly hôn và đơn đề nghị xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Trang.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Cao Văn T và chị Nguyễn Thị Tr tìm hiểu để đi đến kết hôn là do hai bên hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc đã đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, nhưng do vợ chồng không hợp tính tình, thường xuyên xảy ra mâu thuân mà không khắc phục được nên hai bên đã sống ly thân từ năm 2006 cho đến nay. Anh Cao Văn T và chị Nguyễn Thị Tr thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, tình trạng hôn nhân không đạt được nên hai bên đều nhất trí xin được ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy nguyện vọng của cả hai bên là hoàn toàn phù hợp, nhưng do chị Nguyễn Thị Tr có đơn đề nghị xét xử vắng mặt không có mặt tại phiên tòa vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình để công nhận sự tự nguyện thỏa thuận xin được ly hôn mà phải áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để xét xử anh Cao Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị Tr.
Về con chung của vợ chồng: Anh Cao Văn T và chị Nguyễn Thị Tr thừa nhận vợ chồng có với nhau một đứa con chung tên là: Nguyễn Anh T – Sinh ngày: 01/11/2000. Hiện con đã khôn lớn trưởng thành, nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
Về tài sản và công nợ chung của vợ chồng: Anh Cao Văn T và chị Nguyễn Thị Tr thừa nhận vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
Án phí dân sự sơ thẩm: Án phí anh Cao Văn T đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số: 0000173, ngày 27/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa nay phải chịu toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của anh Cao Văn T và chị Nguyễn Thị Tr.
Áp dụng khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 chấp nhận tự thỏa thuận yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình giải quyết ly hôn giữa anh Cao Văn T và chị Nguyễn Thị Tr và đơn đề nghị xét xử vắng mặt của chị Nguyễn Thị Tr.
1.Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử: Anh Cao Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị Tr.
2. Về án phí ly hôn: Anh Cao Văn T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền mà anh Cao Văn T đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ(ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0000173, ngày 27/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Như vậy anh Cao Văn T đã nộp đủ khoản án phí.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt anh Cao Văn T, vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị Tr. Tuyên bố anh Cao Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày xét xử sơ thẩm (03/4/2023) , chị Nguyễn Thị Tr có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã Trung Ngh, huyện Vũng L, tỉnh Vĩnh L.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -TAND tỉnh QB; -VKSND huyện Tuyên Hóa; -Chi cục THADS Tuyên Hóa; -Các đương sự; - UBND xã Trung Ngh; -Lưu Hồ sơ - Án văn. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Thanh Dần |