vanban.org

Bản án 08/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Lương Kim T.

Buộc bà Nguyễn Thị L và ông Trần Thanh Long liên đới trả cho bà Huỳnh Lương Kim T số tiền là 74.000.000 đồng (Bảy mươi bốn triệu đồng triệu đồng); Về án phí:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Lương Kim T.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/SD-ST
Ngày: 13/03 /2023
“V/v Tranh chấp nợ hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH Đ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Triều;

2. Bà Cao Thị Bích Ngọc;

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện C.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Đ tham gia phiên tòa: Ông Trần Hữu Thọ, Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 03 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 220/2022/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2022 về việc “ Tranh chấp nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST-DS, ngày 03 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Lương Kim T, sinh năm 1991;

Địa chỉ: Ấp An Hưng, xã An Khánh, huyện C, tỉnh Đ.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1978;

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Thanh Long, sinh năm 1974;

Cùng địa chỉ: Ấp An Hưng, xã An Khánh, huyện C, tỉnh Đ.

Các đương sự có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các L khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Huỳnh Lương Kim T trình bày:

Vào tháng 01 năm 2021, bà T có tham gia chơi hụi do bà L làm chủ hụi

bao gồm các dây hụi sau:

Hụi mùa 5.000.000 đồng 03 tháng khui một lần vào ngày 20/01/2021 có 16 thành viên. Bà T tham gia 02 phần, đóng được 06 lần với số tiền 19.000.000 đồng. Dây hụi này chưa mãn.

Dây hụi 2.000.000 đồng/ tháng khui vào ngày 30/7/2021 âm lịch, hụi gồm 24 phần. Bà T tham gia 02 phần, đóng được 14 lần với số tiền 47.600.000 đồng. dây hụi này chưa mãn. Sau đó, bà L tuyên bố vỡ hụi và không trả lại tiền hụi.

Tại phiên tòa hôm nay bà Huỳnh Lương Kim T yêu cầu bà Nguyễn Thị L, ông Trần Thanh Long liên đới trả số tiền nợ hụi là 74.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn Nguyễn Thị L trình bày:

Năm 2017, bà L làm chủ hụi mở nhiều dây hụi, hiện đã mãn một số dây hụi, còn một số dây hụi chưa mãn. Hụi khui tại nhà bà L, có mặt các hụi viên đi khui hụi đầy đủ. Bà T có tham gia chơi 02 dây hụi. Vào tháng 01 năm 2021, bà T tham gia 02 phần hụi của dây hụi 5.000.000 đồng. bà T đóng được 06 lần với số tiền 19.000.000 đồng. Dây hụi 2.000.000 đồng có 24 hụi viên, bà T tham gia 02 phần, đóng được 36.000.000 đồng. Tất cả các dây hụi này chưa mãn hụi. Tại phiên tòa bà L đồng ý trả tiền nợ hụi của bà T là 74.000.000 đồng, bà L không yêu cầu ông Long liên đới trả nợ cùng bà, lý do bà và ông Long đã ly hôn.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh Long trình bày:

Ông Trần Thanh Long là chồng bà L. Chúng tôi đã ly hôn từ tháng 8 năm 2022. Thời điểm bà L làm chủ hụi thì ông Long không rõ bao nhiêu dây hụi do đi làm từ sáng đến tối mới về. Ông Long biết bà L mở nhiều dây hụi nhưng không quan tâm đến nhưng lúc trước vở chồng chưa ly hôn ông Trần Thanh Long có đến nhà bà T lấy tiền hụi. Tại phiên tòa bà T yêu cầu ông Long liên đới trả 74.000.000 đồng thì ông Long không đồng ý, do đã ly hôn với bà L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu về việc tuân thủ pháp luật tố tụng và nội dung giải quyết vụ án:

- Về tuân thủ pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Qua phát biểu tranh luận và trên cơ sở phân tích, đánh giá chứng cứ thể hiện trong hồ sơ, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Lương Kim T.

Về án phí: Bà L và ông Long phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho bà T.

- Kiến nghị: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện, đối chiếu quy định của pháp luật tại khoản 3 Điều 26 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; thì vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp nợ hụi. Bị đơn cư trú tại huyện C, tỉnh Đ, cho nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung, trên cơ sở trình bày của các đương sự và tài liệu chứng cứ đã thu thập thể hiện trong hồ sơ và qua tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Vào tháng 01 năm 2021, bà T có tham gia chơi hụi do bà L làm chủ hụi gồm các dây hụi ngày 20/01/2021 hụi 5.000.000 đồng, bà Tắm đóng tiền hụi được 06 lần với số tiền 19.000.000 đồng và dây hụi ngày 30/7/2021 hụi 2.000.000 đồng, bà T đóng tiền hụi được 14 lần với số tiền 36.000.000 đồng. Tất cả các dây hụi này chưa mãn hụi thì bà L tuyên bố vỡ hụi. Tại phiên tòa hôm nay bà T yêu cầu bà L và ông Long liên đới trả lại số tiền hụi đã đóng là 74.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay bà Nguyễn Thị L cũng thừa nhận hiện còn nợ tiền hụi của bà T là 74.000.000 đồng, bà L cũng đồng ý trả cho bà T.

Xét yêu cầu của bà Huỳnh Lương Kim T yêu cầu buộc ông Trần Thanh Long liên đới cùng bà L trả 74.000.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tại thời điểm bà Huỳnh Lương Kim T tham gia chơi hụi vào tháng 01/2021 bà Nguyễn Thị L làn chủ hụi, ông Trần Thanh Long và bà L vẫn còn quan hệ vợ chồng hợp pháp do chưa ly hôn. Ông Long cùng bà L sống chung nhà, biết bà L làm chủ hụi có đi góp tiền hụi cho bà L. Bà L xác định số tiền hưởng huê hồng từ tiền hụi viên, bà L sử dụng cho cá nhân; Tại phiên tòa ông Long đã trình bày rằng tiền bà L kiếm được sử dụng sinh hoạt cho gia đình nuôi con ăn học và dùng tiền xây dựng nhà hiện đang ở. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 27 và Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định việc bà L làm chủ hụi là để có thêm thu nhập chăm lo phục vụ cho các nhu cầu thiết yếu của gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị T, buộc bà L, ông Long cùng có trách nhiệm liê đới trả số tiền nợ hụi 74.000.000 đồng cho bà T là có căn cứ.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận buộc bà L, ông Long phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật;

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357, Điều 471 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/2/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Điều 27 và Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Lương Kim T.

Buộc bà Nguyễn Thị L và ông Trần Thanh Long liên đới trả cho bà Huỳnh Lương Kim T số tiền là 74.000.000 đồng (Bảy mươi bốn triệu đồng triệu đồng);

2. Về án phí:

Buộc bà Nguyễn Thị L và ông Trần Thanh Long liên đới nộp 3.700.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho bà Huỳnh Lương Kim T tiền tạm ứng án phí là 2.140.000 đồng theo biên lai thu số 0013490 ngày 07/11/2022 tại Chi cục thi hành dán Dân sự huyện C, Đ.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ