vanban.org

Bản án 08/2023/DS-ST — Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

TAND TX. Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 21/07/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu c u khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H và Lê Thị T:

Xác định di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị C1 và ông Lê K c T để lại là: 624,7m2 đất CLN, tại TDP 3, phư ng Hải An, TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa, thửa đất số 1060, t bản đ số 5, bản đ địa chính phư ng Hải An đo v năm 2006. Đất đư c hưởng theo quyết định của bản án DSST số 01/2015/DSST của TAND Huyện T nh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất — án dân sự — "CHIA THỪA KẾ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu c u khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H và Lê Thị T:
  • Căn cứ chính? Điều 651 Bộ luật Dân sự; Quyết định số 44/2019/QĐ-UBND Quy định Bảng giá các loại đất…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NH A D A
THỊ XÃ NGHI SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08 /2023/DS-ST
Ngày: 21 – 7 - 2023
V/v: Tranh chấp về chia di sản thừa kế
theo pháp luật.

NH A DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH A D A THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc

Các Hội thẩm nh A d A: 1. Ông: Trương Văn B c

2. Ông: Quản Giang Thao

- Thư ký phiên tòa bà: L Th H i V A - Thư ký Tòa án nh A d A thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nh A d A th xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa: ông Lê Ng c Trung – Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nh A d A thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2019/TLST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2019 về việc: “Tranh chấp về chia di sản thừa kế theo pháp luật” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2023/QĐXXST-DS ngày 09 tháng năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị H - sinh năm: 1959 và bà Lê Thị T – sinh năm 1962 (có mặt)

- Bị đơn: Ông Lê Kh c A- sinh năm: 1946

Ngư i đư c bị đơn ủy quyền: Chị Lê Thị Y – sinh năm 1971 – V ng mặt

Đều có địa chỉ: Tổ d A phố 3, phư ng Hải A, thị xã Nghi S, tỉnh Thanh H

- Ngư i có quyền l i, ngh a vụ liên quan:

+ Ông Lê Kh c M – sinh năm 1962

Địa chỉ: p Chòi D, xã Bình M, huyện T A U, tỉnh Bình D.

Bà Lê Thị Th – sinh năm 1953

Địa chỉ: p 2, Sông Tr, huyện Trảng B, tỉnh Đ ng N.

Bà Lê Thị M1 – sinh năm 1951

Địa chỉ: Khánh X, TP. Buôn Ma Th, tỉnh Đ k L.

Bà Lê Thị C – sinh năm 1950

Địa chỉ: Suối K, Tánh L, tỉnh Bình Th.

Những ngư i có quyền l i ngh a vụ liên quan đều ủy quyền lại cho bà Lê Thị H tham gia tố tụng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn à ê Thị H và à ê Thị T trình bày:

Bố mẹ bà là cụ Lê Kh c T và cụ Nguyễn Thị C1, trong quá trình chung sống đã sinh đư c bảy ngư i con g m: ng Lê Kh c Â, bà Lê Thị C, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị Th, bà Lê Thị H, bà Lê Thị T và ông Lê Kh c M. Bố bà chết năm 1980 còn mẹ bà chết năm 2015. Quá trình chung sống bố mẹ bà có để lại di sản thừa kế là diện tích đất 628m2 đất tại TDP 3, phư ng Hải A, thị xã Nghi S, Thanh H. Di sản thừa kế trên đư c quyết định tại bản án số 01/2015/DSST của TAND Huyện T nh Gia nay là TAND Thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa.

Sau khi bố mẹ các bà qua đ i không để lại di chúc, hiện tại di sản thừa kế trên không có ai quản lý. Nay các bà làm đơn yêu c u chia thừa kế theo pháp luật. Đối với các k ph n thừa kế của bà C, bà Th, bà M1 và ông M đều có văn bản từ chối nhận di sản thừa kế và đều như ng lại k ph n thừa kế mình đư c hưởng theo quy định của pháp luật cho bà Lê Thị H, bà H đ ng ý nhận lại các k ph n thừa kế của bà C, bà Th, bà M1 và ôngM.

Bị đơn ông ê h c ủy uy n ại cho chị ê Thị trình bày: Chị không đ ng ý với yêu c u khởi kiện của bà H và bà T. Về di sản thừa kế của cụ C1 để lại là không đúng. Chị không đ ng ý với nội dung bản án số 01/2015/DSST của TAND Huyện T nh Gia nay là TAND Thị xã Nghi Sơn và nội dung Quyết định đình chỉ số 36/2015/QĐPT ngày 19/5/2015 của TAND Tỉnh Thanh Hóa và đã làm đơn khiếu nại bản án tới VKS ND cấp cao tại Hà Nội về việc đề nghị xem x t theo thủ tục tái thẩm đối với Quyết định số 36/2015/QĐ-PT ngày 19/6/2015 của TAND tỉnh Thanh Hóa. Sau khi có công văn trả l i của VKS ND cấp cao tại Hà Nội về việc không kháng nghị tái thẩm đối với cả bản án sơ thẩm và Quyết định phúc thẩm, chị có quan điểm như sau: Về di sản thừa kế của cụ bà Nguyễn Thị C1 để lại chị không có ý kiến gì nhưng không đ ng ý để Tòa án chia đất thừa kế mà để chú ruột chị là ông Lê Kh c M về chia.

Những Ngư i có quyền l i ngh a vụ liên quan đều có nguyện v ng như ng lại ph n di sản thừa kế mình đư c hưởng cho bà H và ủy quyền cho bà H thay mặt h để tham gia tố tụng tại Tòa án. Bà H có toàn quyền thay mặt h để quyết định m i vấn đề.

Trong quá trình giải quyết vụ án, tại các phiên hòa giải các ngày. Các đương sự đều thống nhất đư c những nội dung như sau:

- Về quan hệ huyết thống như bà Lê Thị H và bà Lê Thị T trình bày là đúng.

- Về di sản thừa kế là: 624.7m2 đất tại TDP 3, phư ng Hải An, thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa đất đã đư c thừa kế theo quyết định của bản án số 01/2015/DSST của TAND Huyện T nh Gia nay là TAND Thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa.

Về nội dung các đương sự không thống nhất: Bà Lê Thị H và Lê Thị T đề nghị Tòa án chia thừa kế theo quy định pháp luật. Chị Lê Thị Y không đ ng ý mà đề nghị để gia đình về đ y đủ r i tự chia.

Về ngh a vụ thanh toán do bà C1 để lại: Bản án số 01/2015/DSST của TAND Huyện T nh Gia nay là TAND Thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa buộc bà C1 phải thanh toán tiền cây cối cho ông Lê Kh c A là 1.250.000đ. Bà Lê Thị H tự nguyện thanh toán số tiền trên cho ông A và không yêu c u các đ ng thừa kế phải thanh toán lại cho bà và quan điểm của bà khi chia đất ph n cây cối rơi vào ph n đất của ai thì ngư i đó đư c hưởng. Ngoài ra đối với chi phí lệ phí định giá tài sản và đo đạc bà c ng không yêu c u các đ ng thừa kế phải thanh toán lại cho bà.

Tại phiên tòa Nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm như trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn v ng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nh A d A thị xã Nghi Sơn phát biểu ý kiến: Về việc tu A theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đ ng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước th i điểm Hội đ ng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng d A sự. Các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và ngh a vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng d A sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đ ng xét xử vào nghị án. Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, Điều 147, Điều 165, Điều 228 và Điều 271 BLTTDS; Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 649, điểm a khoản 1 Điều 650, điểm a khoản 1, 2 Điều 651 BLDS. Đề nghị HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện của bà Lê Thị H và bà Lê Thị T;

Xác định cụ Nguyễn Thị C1 và cụ Lê K c T để lại di sản thừa kế là một diện tích đất 624.7m2 đất CLN tại TDP 3, phư ng Hải A, TX. Nghi S, Thanh H, đất chưa đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tổng giá trị tài sản thừa kế là: 16.866.900đ ng.

Những ngư i đư c hưởng di sản thừa kế của cụ C và cụ T g m: ông Lê Kh c A, bà Lê Thị H, bà Lê Thị T, bà Lê Thị C, bà Lê Thị Th, bà Lê Thị M1 và ông Lê Kh c M.

- Về ngh a vụ do cụ Nguyễn Thị C1 để lại: Đề nghị HĐXX chấp nhận việc bà H tự nguyện nộp số tiền 1.250.000đ để thanh toán tiền tài sản trên đất cho ông Lê Kh c A.

- Giao cho ông Lê Kh c A đư c hưởng 89,3m2 đất CLN trị giá 2.411.100đ có chiều rộng 2m86cm và chiều dài 31m40cm có vị trí tứ cận liền kề như sau:

Phía B c giáp đư ng giao thông chính; Phía nam giáp đất nhà bà Tình, phía Đông giáp đất nhà ông Lê Kh c Avà phía Tây giáp đất nhà bà Lê Thị T.

- Giao cho bà Lê Thị T đư c hưởng 89,3m2 trị giá 2.411.100đ, đất CLN, có chiều rộng 2m86cm và chiều dài 31m40cm có vị trí tứ cận liền kề như sau:

+ Phía B c giáp đư ng giao thông chính; Phía nam giáp đất nhà bà Tình, phía Đông giáp đất nhà ông Lê Kh c A và phía Tây giáp đất nhà bà Lê Thị H

- Do các bà C, Th, M1 và ôngM đều như ng lại k ph n thừa kế bản thân mình đư c hưởng cho bà H nên bà H đư c hưởng 446,1m2 đất CLN trị giá 12.044.700đ ng, có chiều rộng 14m28cm và chiều dài 31m40cm, đất có vị trí tứ cận liền kề như sau:

Phía B c giáp đư ng giao thông chính, phía Nam giáp đất nhà bà Tình, phía Đông giáp đất nhà bà Lê Thị H và phía Tây giáp đư ng giao thông.

- Về án phí: Do ông A, bà H và bà T đều thuộc trư ng h p ngư i cao tuổi nên áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 NQ 326/UBTVQH miễn toàn bộ tiền án phí cho các ông bà.

Đối với lệ phí định giá tài sản bà H không yêu c u các đương sự phải hoàn lại nên đề nghị HĐXX không xem x t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án đư c thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị H và Lê Thị T khởi kiện vụ án chia thừa kế đối với di sản thừa kế do bà Nguyễn Thị C1 và ông Lê Kh c T để lại đây là vụ án tranh chấp về chia thừa kế thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 5 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng d A sự.

Tại phiên tòa ngư i đư c bị đơn ủy quyền đã đư c triệu tập h p lệ l n thứ hai nhưng v ng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về th i hiệu chia thừa kế: cụ ông Lê K c T chết ngày 01/6/1980, cụ bà Nguyễn Thị C1 chết ngày 03/5/2015 và không để lại di chúc. Đối với trư ng h p thừa kế mở trước ngày 10 - 9 - 1990 thì th i hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản đư c thực hiện theo quy định tại Điều 36 của pháp lệnh thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị Quyết số 02/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đ ng thẩm phán Tòa án nh A d A tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp lệnh thừa kế, th i hiệu khởi kiện đư c tính từ ngày 10-9-1990, nên th i điểm mở thừa kế của ông T đư c tính từ ngày 10/9/1990, của bà Cận đư c tính từ ngày 03/5/2015, ngày 07/5/2019, bà Lê Thị H và Lê Thị T nộp đơn khởi kiện đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế theo pháp luật nên vụ án đang còn th i hiệu giải quyết.

Về ngư i để lại di sản thừa kế: cụ Lê Kh c T và cụ Nguyễn Thị C1 là v ch ng, sinh đư c bảy ngư i con, ông T chết năm 1980, đến năm 2015, bà C1 mới đư c công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 624.7m2 đất tại TDP 3, phư ng Hải An, TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa theo Quyết định của Bản án DSST số 01/2015/DSST của TAND Huyện T nh Gia nay là TAND Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Tuy tại th i điểm cụ bà đư c công nhận quyền sử dụng diện tích đất này cụ T đã chết nhưng xác định ngu n gốc diện tích đất này có ngu n gốc do v ch ng tạo dựng lên nên xác định cụ Lê Kh c T và cụ Nguyễn Thị C1 là hai ngư i để lại di sản thừa kế là 624,7m2 đất tại TDP 3, phư ng Hải An, TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa.

. Về yêu c u của các đương sự: Theo đơn khởi kiện c ng như ph n trình bày của các đương sự HĐXX thấy: Cụ Lê K c T chết ngày 01/6/1980, cụ Nguyễn Thị C1 chết ngày 03/5/2015. Trước khi chết cụ Nguyễn Thị C1 và cụ Lê Kh c T có tạo dựng đư c 624.7m2 đất tại TDP 3, phư ng Hải An, TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa, thửa đất số 1060, t bản đ số 5, bản đ địa chính phư ng Hải An đo v năm 2006. Đất đư c hưởng theo quyết định của bản án DSST số 01/2015/DSST của TAND Huyện T nh Gia nay là TAND Thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa, khi chết không để lại di chúc. Điều này đư c các đương sự trình bày tại các phiên hòa giải c ng như tại phiên tòa. Do các đương sự không tiến hành phân chia đư c di sản thừa kế nên đều đề nghị Tòa án chia thừa kế theo pháp luật. Các đương sự thống nhất di sản thừa kế của cụ C1 và cụ T kể từ th i điểm đư c công nhận cho đến nay không có ai có công đóng góp, tôn tạo đối với diện tích đất nói trên. Các đ ng thừa kế đều có nguyện v ng đư c nhận di sản thừa kế b ng hiện vật.

Xét nguyện v ng của các đương sự HĐXX thấy: Cụ T và cụ C1 có bảy ngư i con con đẻ, không có con nuôi: ng Lê Kh c A, bà Lê Thị H, Lê Thị C, Lê Thị Th, Lê Thị M1, Lê Thị T và ông Lê Kh c M vì vậy căn cứ Điều 613, điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông T và bà C1 là bảy ngư i con. Bà Lê Thị C, Lê Thị Th, Lê Thị M1, Lê Thị T và ông Lê Kh c M đều có nguyện v ng chuyển ph n di sản thừa kế mình đư c hưởng lại cho bà Lê Thị H, bà Lê Thị H đ ng ý nhận lại k ph n thừa kế của các bà C, Th, M1 và ông M. X t thấy đây là ý chí tự nguyện, việc từ chối nhận di sản không nh m mục đích trốn tránh ngh a vụ vì vậy HĐXX chấp nhận.

Quá trình làm việc c ng như tại phiên tòa các đương sự đều thống nhất di sản thừa kế do bố mẹ để lại là 624.7m2 tại TDP 3, phư ng Hải An, TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa, thửa đất số 1060, t bản đ số 5, bản đ địa chính phư ng Hải An đo v năm 2006. Đất đư c hưởng theo quyết định của bản án DSST số 01/2015/DSST của TAND Huyện T nh Gia nay là TAND Thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa. Ngoài ra các đương sự đều thống nhất không có ai có công đóng góp công sức đối với di sản thừa kế do cụ T và cụ C1 để lại. Tại ph n quyết định của bản án số 01/2015/DSST của TAND huyện T nh Gia đã công nhận diện tích đất là 628m2 có chiều rộng là 20m và chiều dài là 31.4m. Tuy nhiên do quá trình đo đạc b ng thước dây và cách tính diện tích dẫn đến kết quả sai lệch so với diện tích đo thực tế. Các đương sự đều thống nhất diện tích đất là 624,7m2, trên đất không có tài sản gì và không có ý kiến khiếu nại đối với ph n diện tích đất thiếu so với quyết định của bản án. Vì vậy HĐXX căn cứ Điều 612 BLDS công nhận là 624,7m2 đất tại TDP 3, phư ng Hải An, thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa là di sản thừa kế của cụ bà C1 và cụ ông T để lại.

Về mục đích sử dụng đất: Bản án số 01/2015/DSST của TAND Huyện T nh Gia, tỉnh Thanh Hóa không xác định 624,7m2 đất thuộc loại đất ở hay đất CLN. Quá trình xác minh loại đất tại UBND Phư ng Hải An, thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa xác định diện tích đất 624,7m2 đất là đất CLN. Vì vậy HĐXX, xác định 624,7m2 đất tại TDP 3, phư ng Hải An, TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa là loại đất CLN.

Xét về giá trị di sản thừa kế: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa các đương sự đều đề nghị Tòa án và HĐ ĐG áp giá theo quy định của nhà nước về giá đất để tính giá trị tài sản thừa kế do ông T và bà Cận để lại. HĐ ĐG UBND TX. Nghi Sơn đã áp dụng Quyết định 44/2019/ QĐ – UBND ngày 23/12/2019 của UBND tỉnh Thanh Hóa và bảng giá các loại đất th i k 2020 – 2024 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Đơn giá đất tại vị trí yêu c u chia thừa kế là: 27.000đ/m2 x 624,7m2 = 16.866.900đ. Các đương sự đều thống nhất mức giá trên.

Về ngh a vụ do ngư i chết để lại: Theo quyết định của Bản án số 01/2015/DSST, bà Nguyễn Thị C1 phải giao lại cho ông A số tiền 1.250.000đ là tiền giá trị cây cối do ông A tr ng trên ph n đất của bà Cận. Quá trình giải quyết vụ án bà Lê Thị H tự nguyện thanh toán số tiền trên cho ông A và không yêu c u các đ ng thừa kế phải thanh toán lại cho bà vì vậy đối với số cây trên nếu chia vào ph n của ai thì ngư i đó đư c hưởng. X t thấy đây là ý chí tự nguyện của bà H nên HĐXX chấp nhận.

Về cách thức chia: Quá trình giải quyết vụ án các đương sự không thống nhất đư c cách chia. Ngư i đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị Tòa án không tiến hành chia mà để anh em tự chia. Nguyên đơn thì đề nghị Tòa án chia thừa kế và chia b ng bảy ph n b ng nhau và đều muốn đư c nhận hiện vật. Căn cứ vào hiện trạng diện tích thửa đất, và nguyện v ng của các đương sự đều có nguyện v ng đư c nhận hiện vật. X t thấy đây là ý chí tự nguyện của các bên nên HĐXX căn cứ vào khoản 2 Điều 651, khoản 2 Điều 660 BLHS để ph A chia di sản thừa kế b ng hiện vật như sau: Ph n di sản thừa kế là 624.7m2 đất CLN đư c chia đều cho bảy ngư i con trong đó do bà C, bà Th, bà M1 và ôngM như ng các k ph n thừa kế mình đư c hưởng cho bà H nên bà H đư c nhận thêm bốn k ph n thừa kế của các ông bà trên.

Đối với chi phí thẩm định và định giá: Xét thấy bà Lê Thị H là ngư i nộp tiền 07 triệu đ ng tiền về định giá tài sản và chi phí đo đạc, bà H không có yêu c u các đ ng thừa kế phải trả lại cho bà. X t thấy đây là ý chí tự nguyện của bà H nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Do ông A, bà H và bà T đều thuộc trư ng h p ngư i cao tuổi nên áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 NQ 326/UBTVQH miễn toàn bộ tiền án phí cho các ông bà.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 165, Điều 271 và 273 BLTTDS; Điều 609, 611, 612, 613, 623, 649, điểm a khoản 1 Điều 650, điểm a khoản 1, 2 Điều 651, khoản 2 Điều 660 BLDS; điểm k khoản 4 Điều 95 Luật đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu c u khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H và Lê Thị T:

- Xác định di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị C1 và ông Lê K c T để lại là: 624,7m2 đất CLN, tại TDP 3, phư ng Hải An, TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa, thửa đất số 1060, t bản đ số 5, bản đ địa chính phư ng Hải An đo v năm 2006. Đất đư c hưởng theo quyết định của bản án DSST số 01/2015/DSST của TAND Huyện T nh Gia nay là TAND Thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa. Trị giá di sản thừa kế 624,7m2 đất CLN = 16.866.900đ ng.

2. Bà Lê Thị H có ngh a vụ nộp số tiền 1.250.000đ để thanh toán cho ông Lê Kh c A. Ông Lê Kh c A đư c nhận lại số tiền 1.250.000đ.

3. Chia di sản thừa kế như sau: Chia di sản thừa kế của cụ Lê Kh c T và cụ Nguyễn Thị C1 như sau;

- Chia cho ông Lê Kh c A đư c hưởng 89,3m2 đất CLN, có giá trị 2.411.100 đ ng. Đất có chiều rộng 2m86cm và chiều dài 31m40cm có vị trí tứ cận liền kề như sau:

Phía B c giáp đư ng giao thông chính; Phía nam giáp đất nhà bà Tình, phía Đông giáp đất nhà ông Lê Kh c Avà phía Tây giáp đất nhà bà Lê Thị T.

- Chia cho bà Lê Thị T đư c hưởng 89,3m2 đất CLN, có giá trị 2.411.100 đ ng. Đất có chiều rộng 2m86cm và chiều dài 31m40cm có vị trí tứ cận liền kề như sau:

Phía B c giáp đư ng giao thông chính; Phía nam giáp đất nhà bà Tình, phía Đông giáp đất nhà ông Lê Kh c Avà phía Tây giáp đất nhà bà Lê Thị H

- Do các bà C, Th, M1 và ông M đều như ng lại k ph n thừa kế bản thân mình đư c hưởng cho bà H nên bà H đư c chia 446,1m2 đất CLN, có giá trị 12.044.700 đ ng. Đất có chiều rộng 14m28cm và chiều dài 31m40cm, đất có vị trí tứ cận liền kề như sau:

Phía B c giáp đư ng giao thông chính, phía Nam giáp đất nhà bà Tình, phía Đông giáp đất nhà bà Lê Thị T và phía Tây giáp đư ng giao thông.

- Đối với cây cối trên diện tích đất đư c chia của ngư i nào ngư i đó đư c hưởng.

Có sơ đ k m theo.

- Các đ ng thừa kế đư c chia quyền sử dụng đất có quyền, ngh a vụ đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa để đư c cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đối với ph n đất mình đư c chia theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí: Ông A, bà H và bà T đều thuộc trư ng h p ngư i cao tuổi nên đư c miễn toàn bộ tiền án phí cho các ông bà.

Trả lại cho bà H 11.308.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2017/004116 ngày 08/7/2019 của Chi cục thi hành án d A sự huyện T nh Gia nay là Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai có mặt các nguyên đơn, ngư i ủy quyền của những ngư i có quyền l i ngh a vụ liên quan, v ng mặt bị đơn. Những ngư i có mặt đư c quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn đư c quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án hoặc niêm yết bản án để yêu c u Tòa án nh A d A tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.

6. Trư ng h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án d A sự, thì ngư i đư c thi hành án d A sự, ngư i phải thi hành án d A sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án d A sự; th i hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án d A sự.

Cỡ chữ