vanban.org

Bản án 08/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Sơn Trà, TP Đà Nẵng Tuyên án 22/03/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng S đối với bà Trần Thị B. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự HĐXX
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08 /2023/DS-ST
Ngày 22-3-2023
“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vũ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Bá Bảo

Bà Vũ Thị Lệ Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Ngọc Tín – Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn

Trà, thành phố Đà Nẵng.

Ngày 22 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành

phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 08/2022/TLST-DS ngày 04 tháng 01 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2023/QĐST-HPT ngày 14 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh

Vượng S; địa chỉ: Tầng 2, tòa nhà Rê Tower số 9 Đoàn Văn B, phường 13, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Lô Bằng G – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lương Hoàng Y – Chức vụ: Trưởng

phòng tố tụng (theo Văn bản ủy quyền số 41/UQ-XLTD.22 ngày 18/3/2022 và số 42/UQ-XLTD.22 ngày 18/3/2022 của Chủ tịch Hội đồng thành viên).

Bà Lương Hoàng Y ủy quyền lại cho Công ty Luật TNHH MTV S; địa chỉ:

Số 89 Hồ Phi T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Ngọc A – Giám đốc (theo Văn bản ủy quyền số 01/UQ-XLTD.22 ngày 15/12/2022).

Người được Công ty Luật TNHH MTV S ủy quyền lại bà Nguyễn Thị Hồng

T, sinh năm 1995; địa chỉ: Số 89 Hồ Phi T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (Văn bản ủy quyền số 01/2022/UQ-SL ngày 07/3/2023); có mặt.

2. Bị đơn: Bà Trần Thị B, sinh năm 1968; địa chỉ: Phòng 210 Chung cư 4, tổ

21, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, đại diện theo ủy

quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hồng T trình bày:

Nguyên vào ngày 15/03/2019, bà Trần Thị B có ký Hợp đồng tín dụng số

20190319-0000423 với Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng S vay số tiền 21.100.000 đồng với lãi suất thoả thuận 5.00%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà Trần Thị B có trách nhiệm thanh toán số tiền 38,222,741 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng; 23 tháng đầu, mỗi tháng trả 1.582.236 đồng tháng cuối cùng 2.985.227 đồng. Bắt đầu từ ngày 03/05/2019.

Thực hiện hợp đồng, bà Trần Thị B đã nhận đủ số tiền vay và đã trả cho

Công ty 12 lần với tổng số tiền đã trả là 17.122.675 đồng. Kể từ ngày 09/03/2020 đến nay, bà Trần Thị B không thanh toán thêm bất cứ khoản nào cho Công ty dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở.

Do đó, Công ty khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trần Thị B

thanh toán cho Công ty 21.100.066 đồng, trong đó: nợ gốc là 15.180.111 đồng, nợ lãi là 5.919.955 đồng (tính đến ngày 03/4/2021)

Ngoài khoản tiền gốc, lãi đã yêu cầu Công ty không yêu cầu bà Trần Thị B

trả thêm khoản tiền lãi nào nữa sau ngày 03/4/2021.

* Bị đơn bà Trần Thị B đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố hợp lệ

nhưng không đến Tòa nên không có lời khai của bà Trần Thị B trong hồ sơ vụ án và không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như ý kiến về việc có hay không yêu cầu phản tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Công ty

tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng S và bà Trần Thị B thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bà Trần Thị B (là bị đơn trong vụ án, không có yêu cầu phản tố) đã

được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bà Trần Thị B.

Về nội dung vụ án:

Tại Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20190319-0000423

ngày 15/03/2019, có nội dung: Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng S cho bà Trần Thị B vay số tiền 21.100.000 đồng với lãi suất 5,00%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà Trần Thị B có trách nhiệm thanh toán số tiền 38,222,741 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng; 23 tháng đầu, mỗi tháng trả 1.582.236 đồng tháng cuối cùng 2.985.227 đồng. Bắt đầu từ ngày 03/5/2019 đến 03/4/2021 là hết nợ.

Thực hiện hợp đồng, bà Trần Thị B đã nhận đủ số tiền vay và đã trả cho

Công ty được 12 lần với tổng số tiền đã trả là 17.122.675 đồng. Kể từ ngày 09/03/2020 đến nay bà Trần Thị B không thanh toán thêm bất cứ khoản nào cho Công ty dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở.

Do đó, Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng S khởi

kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trần Thị B phải thanh toán cho Công ty 21.100.066 đồng, trong đó: nợ gốc là 15.180.111 đồng, nợ lãi là 5.919.955 đồng (tính đến ngày 03/4/2021).

Ngoài khoản tiền gốc, lãi đã yêu cầu Công ty không yêu cầu bà Trần Thị B

trả thêm khoản tiền lãi nào nữa sau ngày 03/4/2021.

Xét thấy: Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20190319-

0000423 ngày 15/03/2019, được ký kết giữa Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng S với bà Trần Thị B trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Trần Thị B đã không thực hiện đầy đủ

nghĩa vụ trả lãi và gốc, vi phạm phân kỳ trả nợ. Phía Công ty đã nhiều lần yêu cầu bà Trần Thị B trả nợ nhưng đến nay bà Trần Thị B vẫn không trả được nợ. Vì vậy, bà B đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như đã ký kết trong hợp đồng tín dụng. Việc khởi kiện của Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng S yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị B phải trả số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng là phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tính dụng năm 2010; Điều 463 và 466 của Bộ luật dân sự nên chấp nhận.

Tại phiên tòa, đại diện Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam

Thịnh Vượng S đề nghị ngoài khoản tiền gốc, lãi đã yêu cầu, kể từ sau ngày 03/4/2021 công ty không tính thêm khoản tiền lãi nào khác theo hợp đồng, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH Ngân

hàng Việt Nam Thịnh Vượng S được chấp nhận nên bị đơn là bà Trần Thị B phải chịu án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể số tiền bà Trần Thị B phải chịu là (21.100.066 đồng x 5%) = 1.055.000 đồng.

Hoàn trả cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng S

số tiền tạm ứng án phí 527.000 đồng theo biên lai thu số 0006636 ngày 30/12/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;

khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 463 và 466 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016

của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của

Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng S đối với bà Trần Thị B.

Xử:

1. Buộc bà Trần Thị B phải trả cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt

Nam Thịnh Vượng S số tiền còn nợ (tính đến ngày 03/4/2021) là 21.100.066 đồng, trong đó: nợ gốc là 15.180.111 đồng, nợ lãi là 5.919.955 đồng (sau ngày 03/4/2021 bà Trần Thị B không phải trả thêm khoản tiền lãi nào khác).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến

khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điề 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: 1.055.000 đồng bà Trần Thị B phải chịu. Hoàn trả

cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng S số tiền tạm ứng án phí 527.000 đồng theo biên lai thu số 0006636 ngày 30/12/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyê án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

th hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ