vanban.org

Bản án 08/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Hải An, TP. Hải Phòng Tuyên án 30/08/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP VT,

Buộc ông Đặng Văn D và bà Đinh Thị L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP VT số tiền tạm tính đến ngày 30/8/2023 là 245.159.626 đồng, bao gồm: Số tiền nợ theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1806150734241 ngày 19/8/2018: 166.215.210 đồng (trong đó: nợ gốc 155.953.797 đồng, nợ lãi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP VT,
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/DS-ST
Ngày 30-8-2023
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thiện.

Bà Dương Thị Hồng Vân.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 17/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2023/QĐST-DS ngày 18 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP VT, địa chỉ: phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đoàn Trọng S, Chuyên viên xử lý nợ - Trung tâm xử lý nợ pháp lý Ngân hàng TMCP VT (văn bản ủy quyền số 25/2020/UQ-HĐQT ngày 07/7/2020 và Văn bản ủy quyền số 02/2023/UQ-VPB ngày 28/02/2023 của Ngân hàng TMCP VT); có mặt

- Bị đơn: Ông Đặng Văn D và vợ là bà Đinh Thị L; nơi cư trú: phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đại diện nguyên đơn trình bày yêu cầu khởi kiện: Giữa Ngân hàng TMCP VT (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) với vợ chồng ông Đặng Văn D và bà Đinh Thị L đã thỏa thuận và ký kết các hợp đồng tín dụng sau:

1- Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1806150734241 ngày 19/6/2018 (sau đây viết tắt là hợp đồng vay kiêm thế chấp ô tô) với nội dung:

- Về tín dụng: Ngân hàng cho ông D, bà L vay số tiền 543.000.000 đồng; mục đích vay để thanh toán tiền mua ô tô phục vụ sinh hoạt gia đình; thời hạn vay là 83 tháng từ ngày 20/6/2018 đến ngày 20/5/2025; và các nội dung về lãi suất, phương thức thanh toán, quyền, nghĩa vụ 2 bên …

- Về tài sản thế chấp: Ông D, bà L thế chấp 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Orlando, số khung RLLYF7551HH949467, số máy F18D4172930262, giấy chứng nhận đăng ký xe biển kiểm soát số 15A-397.09 ngày 18/6/2018 của phòng Cảnh sát Giao thông đường bộ, đường sắt Công an thành phố Hải Phòng; và các nội dung về xử lý tài sản bảo đảm, quyền, nghĩa vụ 2 bên … Thỏa thuận thế chấp ô tô được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 19/6/2018 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng.

2- Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 10/7/2018 ( sau đây viết tắt là còn gọi là hợp đồng thẻ tín dụng) với các nội dung: Ngân hàng cho ông D, bà L vay số tiền 63.000.000 đồng, mục đích để tiêu dùng cá nhân; thời hạn vay là 60 tháng kể từ khi bên vay nhận tiền vay; lãi suất cho vay và cơ chế điều chỉnh lãi suất thực hiện theo nội dung chấp thuận cho vay của ngân hàng, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, phạt chậm trả lãi bằng 10% lãi suất trong hạn; lịch và phương thức trả nợ: Trả gốc và lãi vào ngày 15 hàng tháng. Ngoài ra, hợp đồng thẻ tín dụng được hai bên thỏa thuận các nội dung liên quan đến quan hệ tín dụng về quyền, nghĩa vụ của hai bên.

Thực hiện hợp đồng, ngân hàng đã giải ngân và ông D, bà L đã nhận đủ số tiền vay theo các hợp đồng. Quá trình sử dụng vốn vay, ông D, bà L đã trả được một phần nợ gốc và tiền lãi. Thời gian về sau, ông D, bà L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, đôn đốc, tạo điều kiện thực hiện nghĩa vụ nhưng ông D, bà L vẫn vi phạm. Đến ngày 27/01/2023, toàn bộ khoản vay của ông D, bà L bị chuyển lãi quá hạn. Do vậy, ngân hàng khởi kiện ông D, bà L với các nội dung:

- Buộc ông D, bà L phải trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 30/8/2023 là 245.159.626 đồng, gồm:

Số tiền nợ theo hợp đồng vay kiêm thế chấp ô tô: 166.251.210 đồng (trong đó: Nợ gốc 155.953.797 đồng, nợ lãi 10.297.413 đồng).

Số tiền nợ theo hợp đồng thẻ tín dụng: 78.908.416 đồng (trong đó nợ gốc 12.156.510 đồng, nợ lãi 66.751.907 đồng).

Tiếp tục cho tính lãi theo đúng các hợp đồng vay cho đến khi ông D, bà L thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.

- Trường hợp ông D, bà L trả không đầy đủ hoặc không trả nợ thì Ngân hàng có quyền xử lý tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Orlando BKS 15A-397.09 theo hợp đồng vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô.

Trường hợp số tiền bán tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ của Ngân hàng thì ông D, bà L vẫn phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi khoản nợ được tất toán.

Ông D, bà L là bị đơn đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến Tòa án thể hiện ý kiến, quan điểm về việc khởi kiện của Ngân hàng.

Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu ý kiến quy định tại Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng. Về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông D, bà L phải trả nợ cho ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 30/8/2023 là 245.159.626 đồng, bao gồm: Số tiền nợ theo hợp đồng vay kiêm thế chấp ô tô: 166.251.210 đồng (trong đó: Nợ gốc 155.953.797 đồng, nợ lãi 10.297.413 đồng); số tiền nợ theo hợp đồng thẻ tín dụng: 78.908.416 đồng (trong đó nợ gốc 12.156.510 đồng, nợ lãi 66.751.907 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 31/8/2023 đến thời điểm bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền nợ; trường hợp ông D, bà L không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền xử lý tái sản bảo đảm, tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết số tiền nợ thi ông D, bà L còn phải có nghĩa vụ thanh toán đến khi tất toán khoản vay; ông D, bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án

Nguyên đơn là Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Đặng Văn D và bà Đinh Thị L cư trú tại quận Hải An, thành phố Hải Phòng trả tiền vay theo hợp đồng tín dụng. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp giữa Ngân hàng với ông D và bà L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

Về việc vắng mặt của bị đơn

Ông D, bà L là bị đơn được được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông D, bà L.

Về nội dung khởi kiện của Ngân hàng yêu cầu ông D, bà L thực hiện nghĩa vụ trả nợ

Xét hợp đồng vay kiêm thế chấp ô tô và hợp đồng thẻ tín dụng giữa Ngân hàng với ông D và bà L đều được ký bởi người đại diện hợp pháp của bên cho vay cũng là bên nhận thế chấp (là Ngân hàng) với bên vay đồng thời là bên thế chấp (là ông D và bà L). Các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích để thực hiện nhu cầu của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật; tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm. Do đó, hợp đồng vay kiêm thế chấp ô tô và hợp đồng thẻ tín dụng có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bên cho vay là ngân hàng đã giải ngân, ông D và bà L đã nhận đủ số tiền vay theo đúng thỏa thuận trong các hợp đồng. Như vậy, Ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo hợp đồng.

Việc ông D và bà L thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ do các bên thỏa thuận.

Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông D và bà L phải thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 30//8/2023 là 245.159.626 đồng, bao gồm: Số tiền nợ theo hợp đồng vay kiêm thế chấp ô tô: 166.251.210 đồng (trong đó: Nợ gốc 155.953.797 đồng, nợ lãi 10.297.413 đồng); số tiền nợ theo hợp đồng thẻ tín dụng: 78.908.416 đồng (trong đó nợ gốc 12.156.510 đồng, nợ lãi 66.751.907 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 31/8/2023 đến thời điểm thanh toán toàn bộ số tiền nợ.

Trường hợp ông D và bà L thanh toán không đầy đủ hoặc không thanh toán số tiền nợ thì Ngân hàng có quyền xử lý tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Orlando biển kiểm soát 15A-397.09 theo Hợp đồng vay kiêm thế chấp ô tô. Trường hợp số tiền bán tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ của Ngân hàng thì ông D và bà L vẫn phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi khoản nợ được tất toán.

Về nghĩa vụ chịu án phí, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên ông Đặng Văn D và bà Đinh Thị L có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng; các điều 466, 468, 299, 303, 320, 321, 322 và 323 của Bộ luật Dân sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP VT,

- Buộc ông Đặng Văn D và bà Đinh Thị L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP VT số tiền tạm tính đến ngày 30/8/2023 là 245.159.626 đồng, bao gồm: Số tiền nợ theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1806150734241 ngày 19/8/2018: 166.215.210 đồng (trong đó: nợ gốc 155.953.797 đồng, nợ lãi 10.247.413 đồng) Số tiền nợ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 17/7/2018: 78.908.416 đồng (trong đó nợ gốc 12.156.510 đồng, nợ lãi 66.751.907 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 31/8/2023 đến thời điểm thanh toán toàn bộ số tiền nợ.

Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng thì lãi suất mà bên vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng.

- Trường hợp ông Đặng Văn D và bà Đinh Thị L không trả được số tiền nợ thì Ngân hàng TMCP VT có quyền hoặc đề nghị cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Orlando, số khung RLLYF7551HH949467, số máy F18D4172930262, giấy chứng nhận đăng ký xe ngày 18/6/2018 biển kiểm soát số 15A-397.09 để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1806150734241 ngày 19/8/2018 giữa Ngân hàng TMCP VT với ông Đặng Văn D và bà Đinh Thị L.

Trường hợp số tiền bán tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán toàn bộ số tiền nợ thì ông Đặng Văn D và bà Đinh Thị L vẫn phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng TMCP VT cho đến khi khoản nợ được tất toán.

- Ông Đặng Văn D và bà Đinh Thị L có nghĩa vụ nộp 12.257.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho Ngân hàng TMCP VT số tiền 7.565.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp (biên lai thu tạm ứng án phí số 0004882 ngày 25/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).

Ngân hàng TMCP VT có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Ông Đặng Văn D và bà Đinh Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ