vanban.org

Bản án 08/2022/KDTM-ST — Tranh chấp về xây dựng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV Tư vấn Xây dựng K.

Buộc Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Ô tô Ph trả cho Công ty TNHH MTV Tư vấn Xây dựng K số tiền 129.947.000 đồng. Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án, Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Ô tô Ph chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xây dựng — án kinh doanh thương mại — "Hồ sơ kinh doanh thương mại"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV Tư vấn Xây dựng K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CÁI RĂNG,
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2022/KDTM-ST
Ngày 16-8-2023
V/v tranh chấp hợp đồng
giao khoán thi công

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Mẫn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thanh Mai.

2/ Bà Trần Ngọc Sáng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Thiện – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 05/2023/TLST-KDTM ngày 21 tháng 3 năm 2023 về việc “tranh chấp hợp đồng giao khoán thi công” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 307/2023/QĐXXST-KDTM ngày 07 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Tư vấn Xây dựng K.

Địa chỉ: Khu vực T, phường T, quận C, thành phố C.

Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Trọng Kh (Có mặt).

Bị đơn: Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Ô tô Ph.

Địa chỉ: Tổ 11 Khu vực 1, phường H, quận C, thành phố C.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Tha (Vắng mặt).

Chức vụ: Giám đốc Công ty.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày: Công ty TNHH MTV Tư vấn Xây dựng K (trước đây là Công ty CP Đầu tư và Tư vấn Thiết kế Xây dựng 9, sau đây gọi tắt là Công ty K) ký với Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Ô tô Ph (sau đây gọi tắt là Công ty Ph) hợp đồng giao khoán thi công vào ngày 01/6/2018 để đóng và nhổ cừ lá sen tại cầu C3 huyện An Phú, tỉnh An Giang trong thời gian từ ngày 03/6/2018 đến ngày 03/7/2018 với giá giao khoán 500.000.000 đồng. Theo thỏa thuận tại Điều 5 của hợp đồng Công ty K đã chuyển cho Công ty Ph 80.000.000 đồng theo Ủy nhiệm chi ngày 04/6/2018 và Chứng từ giao dịch Ngân hàng ngày 04/6/2018 nhưng sau đó Công ty Ph không thực hiện. 10 ngày sau khi hết thời hạn 01 tháng theo hợp đồng Công ty Ph vẫn không thực hiện buộc Công ty K phải ban hành Thông báo cắt hợp đồng. Sau nhiều lần liên hệ với bà Tha (Người đại diện theo pháp luật) thì nhận được lời hứa, câu trả lời bâng quơ, thiếu trách nhiệm. Công ty K khởi kiện yêu cầu Công ty Ph trả lại tiền gốc đã nhận 80.000.000 đồng và 42.400.000 đồng tiền lãi 1%/tháng tạm tính tính từ ngày 04/6/2018 đến ngày 04/11/2022.

Bị đơn Công ty Ph: Vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Diễn biến tại phiên tòa, Công ty K giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, cập nhật tiền lãi 1%/tháng tính từ ngày 04/6/2018 đến ngày xét xử 16/8/2023 là 49.947.000 đồng. Công ty Ph vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về tố tụng, Tòa thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, đúng tư cách đương sự, thu thập chứng cứ, hòa giải đúng luật định, không vi phạm thời hạn đưa vụ án ra xét xử. Công ty Ph được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với Công ty là phù hợp quy định Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào Hợp đồng, Chứng từ giao dịch Ngân hàng và Ủy nhiệm chi chứng tỏ Công ty K có ký hợp đồng giao khoán thi công và đã chuyển tiền cho Công ty Ph nhưng Công ty Ph không thực hiện hợp đồng là vi phạm nên phải trả lại tiền gốc đã nhận và tiền lãi cho Công ty K. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Công ty K là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận (Kèm theo Bài phát biểu chi tiết).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ thu thập, thẩm tra xác định các đương sự tranh chấp hợp đồng giao khoán thi công. Tòa án thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều 30, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Khoản 3 Điều 317 Luật Thương mại. Công ty Ph được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với Công ty.

Công ty Ph vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không ghi nhận được lời khai cũng như quan điểm giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty K nhưng căn cứ vào Chứng từ giao dịch ngày 04/6/2018 và Ủy nhiệm chi ngày 04/6/2018 của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh quận Bình Thủy với nội dung giao dịch Công ty K chuyển trả tiền đóng cừ Đợt 1 là 80.000.000 đồng chứng minh được giữa Công ty K và Công ty Ph có ký kết Hợp đồng giao khoán thi công ngày 01/6/2018. Công ty K đã thực hiện đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận tại Điều 5 hợp đồng. Theo Thông báo cắt hợp đồng ngày 13/6/2018 của Công ty K thì Công ty Ph đã vi phạm nghĩa vụ thi công nên phải có nghĩa vụ trả lại số tiền đã nhận theo quy định tại Khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự Công ty Ph còn phải trả lãi đối với số tiền trên với mức lãi suất 1%/tháng từ ngày 04/6/2018 đến ngày 16/8/2023 là 49.947.000 đồng. Tổng số tiền phải trả là 129.947.000 đồng.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty Ph chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự Công ty Ph phải chịu 6.497.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Công ty K được nhận lại tiền tạm ứng đã nộp 3.060.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003004 ngày 16/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 30, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Khoản 1 Điều 351, Điều 357 Bộ luật Dân sự.

Khoản 3 Điều 317 Luật Thương mại.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV Tư vấn Xây dựng K.

Buộc Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Ô tô Ph trả cho Công ty TNHH MTV Tư vấn Xây dựng K số tiền 129.947.000 đồng.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án, Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Ô tô Ph chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.

Về án phí: Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Ô tô Ph phải chịu 6.497.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Công ty TNHH MTV Tư vấn Xây dựng K được nhận lại tiền tạm ứng đã nộp 3.060.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003004 ngày 16/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng.

Về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ