- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn H phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi,…"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tống tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2022/HSST Ngày 18-01-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Vũ Thị Hoà
2. Ông Hoàng Văn Ngân
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga – Thư ký tòa án nhân dân thành phố L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố L tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Cường– Kiểm sát viên.
Ngày 18/01/2022 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố L.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 138/2021/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2022/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Ngô Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày: 02/5/2001 tại thành phố L, tỉnh Lào Cai.
ĐKNKTT và nơi ở: Thôn K, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Phù Lá; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: lớp 0/12; nghề nghiệp: Lao động tự do.
Tiền sự: Không; Tiền án: Không
Con ông Ngô Văn Tình và bà Lù Thị Lan. Bị cáo chưa có vợ, con. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/11/2021 (có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo Ngô Văn H: Bà Phạm Thị Thương – Trợ giúp viên pháp lý trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai
Người bị hại: Bà Lý Thị Hưng – Sinh năm 1970 (Có mặt tại phiên tòa).
Địa chỉ: Thôn K, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai. (có mặt tại phiên tòa).
Những người làm chứng:
1. Chị Đào Thị Đ- sinh năm 1977 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn K, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
2. Chị Lù Thị M – sinh năm 1973 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn K, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
3. Anh Ngô Văn T – sinh năm 1972 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn K, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
4. Anh Lý Văn B – sinh năm 2001 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn An Thành, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
5. Chị Lù Thị T – sinh năm 1996 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn K, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
6. Ông Đào Văn H – sinh năm 1969 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn K, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 14/8/2021, bà Lý Thị Hưng và Ngô Văn H đến ăn cơm tại nhà anh Ngô Văn T. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, anh Lý Văn B đến rủ Ngô Văn H đi bắt cá. Lý Văn B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24B1 – 720.51 chở Ngô Văn H đi theo hướng Thôn K đi thôn An Thành, xã T, thành phố L. Sau đó, chị Đào Thị Đ là hàng xóm gần nhà bà Lý Thị Hưng đến nói chuyện với bà Lý Thị Hưng về việc nhà bà Lý Thị Hưng bị mất trộm chó và có nhìn thấy Ngô Văn H và một nam thanh niên khác trói con chó nhà bà Lý Thị Hưng cho lên xe mô tô chở đi. Bà Lý Thị Hưng về nhà kiểm tra thì không thấy con chó đâu, bà Lý Thị Hưng cho rằng Ngô Văn H và nam thanh niên vừa đến bắt trộm chó nhà mình nên đã gọi điện cho anh Lù Văn Kỳ, nhờ anh Lù Văn Kỳ tìm Ngô Văn H để hỏi xem có phải Ngô Văn H trộm chó nhà mình không. Anh Lù Văn Kỳ điều khiển xe mô tô đuổi theo Ngô Văn H và Lý Văn B. Khi đuổi kịp, anh Lù Văn Kỳ không thấy trên xe mô tô của Ngô Văn H và Lý Văn B có con chó nào nên yêu cầu Ngô Văn H quay trở lại nhà ông Ngô Văn T để nói chuyện với bà Lý Thị Hưng. Khi quay trở lại nhà ông Ngô Văn T, bà Lý Thị Hưng và Ngô Văn H xảy ra cãi nhau,Ngô Văn H trèo qua bức tường ngăn cách giữa khu vực đất vườn và sân nhà ông Ngô Văn T. Lúc này,Ngô Văn H đứng ở khu vực đất vườn, bà Lý Thị Hưng đứng ở sân xi măng nhà ông Ngô VănThường, Ngô Văn H đứng đối diện với bà Lý Thị Hưng, cách khoảng 5m và cúi xuống dùng tay phải nhặt một viên gạch vỡ ở dưới đất lên ném về phía bà Lý Thị Hưng đang đứng mục đích chỉ để doạ bà Lý Thị Hưng và mọi người, viên gạch trúng vào cái cột sau đó trúng trán bên trái của bà Lý Thị Hưng. Sau khi gây thương tích cho bà Lý Thị Hưng, Ngô Văn H đã bỏ chạy, bà Lý Thị Hưng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai. Đến ngày, 09/11/2021 thì Ngô Văn H bị bắt tạm giam.
Vật chứng thu giữ: 01 viên gạch có kích thước 10x05x04 cm màu đỏ.
- Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 210 ngày 01/10/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Lào Cai đã kết luận về thương tích của Lý Thị Hưng gồm:
+ Sẹo vùng trán trái kích thức nhỏ: Mức tổn hại sức khoẻ là 03%;
+ Sẹo mổ kéo dài từ giữa trán vòng lên đỉnh sang thái dương kích thước lớn: Mức tổn hại sức khoẻ là 03%
+ Máu tụ dưới màng cứng vùng trán trái đã điều trị không có di chứng thần kinh còn hình ảnh máu tụ dày 04mm: Mức tổn hại sức khoẻ là 13%
+ Vỡ xương trán trái: Mức tổn hại sức khoẻ là 06%
+ Khuyết xương sọ vùng trán đấy cứng (đã được vá bằng mảnh xương sọ): Mức tổn hại sức khoẻ là 16%
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 35% (Ba mươi lăm phần trăm); Cơ chế chấn thương: Chấn thương trực tiếp; Vật gây thương tích: Vật tày.
Về trách nhiệm dân sự: Đối với bị hại bà Lý Thị Hưng sau khi điều trị đã có đơn yêu cầu bồi thường các khoản gồm chi phí điều trị tại bệnh viện 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng); Chi phí đi lại khám chữa bệnh 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng); Thu nhập thực tế bị mất trong 20 ngày điều trị 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng); Chi phí ngày công thuê người chăm sóc 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Tổng số tiền yêu cầu bồi thường là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng). Đến nay, số tiền này Ngô Văn H chưa bồi thường cho bà Lý Thị Hưng.
Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo Ngô Văn H là bà Phạm Thị Thương trình bày lời bào chữa: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số, với độ tuổi còn trẻ, không có trình độ phổ thông, hiểu biết, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ nên có hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại đến sức khoẻ của người khác nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134 - Bộ luật Hình sự ; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất của khung hình phạt là 05 (Năm) năm tù giam để bị cáo sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo nhất trí bồi thường cho người bị hại tổng số tiền là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
Cáo trạng số 140/CT-VKSTPLC ngày 29/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, truy tố bị cáo Ngô Văn H về tội "Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 – Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố là theo điểm c khoản 3 Điều 134 – Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát thành phố L đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134 - Bộ luật Hình sự ; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Ngô Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt bị cáo với mức án từ 05 (Năm) năm đến 05 (Năm) năm 06 (sáu) tháng tù giam.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47- Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106- Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch có kích thước 10x05x04cm màu đỏ.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 585, Điều 590 của Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại các khoản sau:
- Tiền viện phí là: 14.000.000 đồng.
- Tiền công cho người chăm sóc là: 4.000.000 đồng.
- Tiền chi phí đi lại khám chữa bệnh là: 3.000.000 đồng.
- Tiền thu nhập thực tế bị mất trong 20 ngày điều trị là: 4.000.000 đồng
Tổng cộng là: 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người bị hại theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tống tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, tang vật thu giữ, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy từ mẫu thuẫn nhỏ giữa bị cáo Ngô Văn H và bị hại Lý Thị Hưng mà bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm là viên gạch gây thương tích cho bị hại, hung khí nguy hiểm được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 14/8/2021 bị cáo Ngô Văn H đã có hành vi dùng viên gạch là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bà Lý Thị Hưng. Mức tổn hại sức khỏe tại thời điểm giám định là 35% (Ba mươi lăm phần trăm). Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội "Cố ý gây thương tích". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 – Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố L truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân thành phố L là hoàn toàn đúng quy định pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nhận thức rõ sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi xâm hại nhưng bị cáo thiếu ý thức trong việc chấp hành pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần xử lý nghiêm trước pháp luật, có mức án tương xứng với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt. Xét thấy bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và ngày 24/11/2021 và tại phiên toà người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51- Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về vật chứng vụ án: Đối với 01 viên gạch có kích thước 10x05x04cm màu đỏ là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: : Bị hại Lý Thị Hưng yêu cầu bị cáo Ngô Văn H phải có trách nhiệm bồi thường cho bà số tiền là: 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) gồm các khoản tiền sau.
- Tiền viện phí là: 14.000.000 đồng.
- Tiền công cho người chăm sóc là: 4.000.000 đồng.
- Tiền chi phí đi lại khám chữa bệnh là: 3.000.000 đồng.
- Tiền thu nhập thực tế bị mất trong 20 ngày điều trị là: 4.000.000 đồng
Tổng cộng là: 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng). Đến nay bị cáo vẫn chưa bồi thường được cho bị hại số tiền trên.Tại phiên tòa bị cáo nhất trí bồi thường cho bị hại số tiền là: 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp cần chấp nhận.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Ngô Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích’’. Xử phạt bị cáo Ngô Văn H 5 (Năm) năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 09/11/2021.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch có kích thước 10x05x04cm màu đỏ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/11/2021)
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Ngô Văn H phải bồi thường cho người bị hại là bà Lý Thị Hưng số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo Ngô Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.250.000đ ( Một triệu hai trăm lăm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bào chữa, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, thành phố - THA dân sự; - PC 10; - Nhà tạm giữ CATP; - Bị cáo; bị hại; NBC; - Lưu HS – TA, THA. | Đỗ Thị Thanh Hƣơng |