- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thái H (Mạnh), sinh năm 1981 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Thái H (Mạnh) phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 08/2022/HS-ST Ngày: 25/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bạch Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Quốc Dũng;
2. Bà Ngô Kim Quyên.
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cheo - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 89/2022/QĐXXST-HS ngày 08/11/2022 đối với bị cáo:
Võ Thái H (Mạnh), sinh năm 1981; Nơi sinh: Tân Châu – An Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú (Chỗ ở hiện nay): tổ 08, ấp L, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 3/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: đạo Phật; Con ông Võ Bá H, sinh năm 1951 và bà Thái Thị Tuyết Ng, sinh năm 1958; Năm 2002, bị cáo chung sống với Huỳnh Thị M T, sinh năm 1981, có 02 người con (lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2014); Năm 2018, bị cáo chung sống với Lâm Thị Cẩm Nh, sinh năm 1981 (không có con chung).
Tiền án: Ngày 25/9/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 13/10/2021, chấp hành xong hình phạt.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/7/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa. Bị hại: Ông Phan Văn C, sinh năm 1962, địa chỉ: ấp T, xã A, thị xã H, tỉnh An Giang; vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:
- Ông Lê Hoàng M, sinh năm 1976, địa chỉ: tổ 13, ấp Ph, xã N, huyện P, tỉnh An Giang; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1966, địa chỉ: tổ 12, ấp T, xã A, thị xã H, tỉnh An Giang; có mặt Người làm chứng: Ông Huỳnh Văn Ph, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 09/7/2022, Võ Thái H điều khiển xe đạp đến nhà ông Phan Văn C thuộc ấp Tân Hậu B2, xã Long An, thị xã Tân Châu để tìm tài sản lấy trộm, H nhìn thấy trong sân nhà ông C có để các chậu sành và không ai trông coi, H đi vào lấy trộm 03 chậu sành, khi mang ra ngoài, H thấy có 01 chậu sành bị nứt nên đã để lại, 02 chậu sành còn lại, H đưa lên yên xe, rồi chở về nhà Ông Nguyễn Văn S để tại chân cầu thang. Đến sáng ngày 10/7/2022, H thuê xe honda đầu của Ông Huỳnh Văn Ph chở 02 chậu sành đến ấp Phú Trung, xã Phú Thành, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang bán cho ông Lê Hoàng M với giá 1.500.000 đồng, H trả tiền thuê xe 150.000 đồng, mua ma túy 100.000 đồng để sử dụng, số tiền còn lại, H tiêu xài cá nhân. Sau khi phát hiện bị mất trộm, ông C đến Công an trình báo, Công an mời H làm việc và H thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 25/9/2020, bị cáo H bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 13/10/2021, chưa được xóa án tích. Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 (một) chậu sành màu xanh, có hoa văn hình rồng màu vàng – xanh, kích thước đường kính miệng 59cm, cao 33cm, đường kính dày 39,5cm (đã qua sử dụng); 01 (một) chậu sành màu xanh đen, có hoa văn hình rồng màu vàng-nâu-xanh, kích thước đường kính miệng 54cm, cao 33cm, đường kính dày 33cm (đã qua sử dụng); 01 (một) chậu sành màu xanh, kích thước đường kính miệng 51cm, cao 33cm (đã qua sử dụng). Kết luận định giá tài sản số 311/KL-HĐĐG.TTHS ngày 09/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Tân Châu:
- 01 (một) chậu sành màu xanh, có hoa văn hình rồng màu vàng – xanh, kích thước đường kính miệng 59cm, cao 33cm, đường kính dày 39,5cm (đã qua sử dụng), trị giá 900.000 đồng;
- 01 (một) chậu sành màu xanh đen, có hoa văn hình rồng màu vàng-nâu-xanh, kích thước đường kính miệng 54cm, cao 33cm, đường kính dày 33cm (đã qua sử dụng), trị giá 800.000 đồng;
- 01 (một) chậu sành màu xanh, kích thước đường kính miệng 51cm, cao 33cm (đã qua sử dụng), trị giá 200.000 đồng;
Tổng trị giá: 1.900.000 đồng.
Cáo trạng số 49/CT-VKSTC ngày 10 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu đã truy tố bị cáo Võ Thái H về tội“Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bị hại ông Phan Văn C khai, ông bị lấy trộm các chậu sành dùng để trồng mai kiểng được để trước sân nhà, ông C đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường, yêu cầu xử lý bị cáo H theo qui định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Nguyễn Văn S khai, cách khoảng 02 tháng thì H có đến nhà ông S ngủ nhờ, đến sáng hôm sau thì ông nhìn thấy có 02 chậu sành được để dưới chân cầu thang nhà ông. Ông S nghi ngờ do H lấy trộm nhưng sợ H trả thù nên ông không dám trình báo công an. Đồng thời, H có mượn chiếc xe đạp của ông nhưng không biết H dùng xe đạp của ông để đi lấy trộm tài sản, ông S đã nhận lại chiếc
xe đạp.
Ông Lê Hoàng M khai, ông có mua 02 chậu kiểng do H đem lại bán với giá 1.500.000 đồng, ông M không biết 02 chậu kiểng này là do H lấy trộm, ông M đã giao nộp 02 chậu kiểng cho Cơ quan điều tra và không yêu cầu bồi thường.
Người làm chứng Ông Huỳnh Văn Ph khai phù hợp với nội dung vụ án đã nêu.
Tại phiên tòa, bị cáo H khai nhận toàn bộ hành vi lấy trộm tài sản của ông C theo nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Hội đồng xét xử công bố Kết luận định giá tài sản số 311 ngày 09/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Tân Châu; Lời khai của bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án; Người làm chứng vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến.
Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát: Lời khai nhận của bị cáo Võ Thái H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng trong quá trình điều tra, cùng các vật chứng được thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo H đã lén lút lấy trộm tài sản của ông C, trị giá:1.900.000 đồng. Bị cáo có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý, gây mất trật tự trị an ở địa Ph nên phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa chung trong xã hội. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, thuộc thành phần lao động nghèo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử có xem xét khi lượng hình. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; đề nghị xử phạt bị cáo Võ Thái H, từ đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung. Về xử lý vật chứng: Qúa trình điều tra, ông C đã nhận lại nên không đề cập giải quyết. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Phan Văn C đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên đề nghị không xem xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hoàng M khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra khi ông mua tài sản không biết phạm tội mà có và ông M vắng mặt tại phiên tòa, nếu ông M có yêu cầu sẽ khởi kiện giải quyết bằng vụ án dân sự. Trong phần tranh luận, bị cáo H không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đồng ý theo Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến khác. Bị cáo nói lời sau cùng, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: * Về tố tụng: [1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị cáo Võ Thái H bị Cơ quan điều tra - Công an thị xã Tân Châu khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” xảy ra tại khu vực ấp T, xã A, thị xã H, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. [2] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại ông Phan Văn C; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Lê Hoàng M; Người làm chứng Ông Huỳnh Văn Ph đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.
* Về nội dung:
Hành vi phạm tội:
Bị cáo Võ Thái H khai nhận, do muốn có tiền tiêu xài và sử dụng ma túy, khoảng 23 giờ 30 phút ngày 09/7/2022, bị cáo điều khiển xe đạp đến nhà ông Phan Văn C thuộc ấp Tân Hậu B2, xã Long An, thị xã Tân Châu. Tại đây, bị cáo H thấy trong sân nhà ông C có để các chậu sành và không ai trông coi nên đã vào trong lấy trộm 03 chậu sành, có hoa văn hình rồng, rồi mang ra ngoài. Bị cáo thấy có 01 chậu sành bị nứt nên đã để lại, 02 chậu sành còn lại, bị cáo H đưa lên yên xe, đem về nhà Ông Nguyễn Văn S để tại chân cầu thang. Đến sáng ngày 10/7/2022, bị cáo H thuê xe honda đầu của Ông Huỳnh Văn Ph chở 02 chậu sành đến ấp Phú Trung, xã Phú Thành, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang bán cho ông Lê Hoàng M với giá 1.500.000 đồng, bị cáo trả tiền thuê xe 150.000 đồng, mua ma túy 100.000 đồng để sử dụng, số tiền còn lại, bị cáo tiêu xài cá nhân. Sau khi phát hiện bị mất trộm, ông C đến Công an trình báo, Công an mời bị cáo H làm việc, bị cáo đã thừa nhận hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Ngoài ra, ngày 25/9/2020, bị cáo H bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 13/10/2021, chưa được xóa án tích.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; lời khai người làm chứng; biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm ngày 24/7/2022 do Công an xã Long An lập; biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh, sơ đồ hiện trường do cơ quan có thẩm quyền lập và các chứng cứ được thể hiện trong hồ sơ vụ án.
Tài sản bị cáo H lấy trộm trị giá:1.900.000 đồng (theo kết luận định giá tài sản số 311/KL-HĐĐG.TTHS ngày 09/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Tân Châu).
Ngày 25/9/2020, bị cáo H bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 13/10/2021, chưa được xóa án tích. Ngày 09/7/2022, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện với lỗi cố ý. An ninh trật tự là vấn đề đặc biệt và cần quan tâm, mọi người cùng nhau giữ gìn trật tự chung ở địa Ph, bảo vệ tài sản của nhau. Bị cáo H là thanh niên có khả năng lao động. Lẽ ra, bị cáo phải tích cực lao động tạo thu nhập và phụ giúp gia đình, làm gương để nuôi dạy các con. Ngược lại, bị cáo lại lười biếng lao động không làm mà muốn có tiền tiêu xài nên lợi dụng sự sơ hở của người khác mà chiếm đoạt tài sản một cách trái pháp luật. [2] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Không.
- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế; thuộc thành phần lao động là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. [3] Hình phạt: Hành vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội. Xét, phải có mức hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo với bên ngoài xã hội trong thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Xét, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Phan Văn C đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không xem xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hoàng M vắng mặt tại phiên tòa. Xét, nếu ông M có yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự. [5] Những vấn đề khác: Đối với Ông Huỳnh Văn Ph được bị cáo H thuê chở tài sản đem đi bán nhưng Ph không biết là tài sản do H lấy trộm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Tân Châu không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp. Riêng ông Lê Hoàng M đã mua tài sản do bị cáo H lấy trộm nhưng ông M không biết là tài sản do bị cáo H lấy trộm mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Tân Châu không khởi tố ông M về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ. Tại phiên tòa, ông M vắng mặt cũng cần nhắc nhở ông M khi mua
tài sản phải biết rõ nguồn gốc để sớm tố giác tội phạm.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Võ Thái H (Mạnh) phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt: Võ Thái H (Mạnh) 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù;
Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo Võ Thái H được tính kể
từ ngày bị bắt tạm giam 26/7/2022 (Hai mươi sáu tháng bảy năm hai nghìn không trăm hai mươi hai).
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo Võ Thái H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện KSND TX Tân Châu (2); - Tòa án nhân dân tỉnh (1); - Sở Tư pháp (1); - Nhà Tạm giữ (2); - Phòng hồ sơ (1); - Chi cục THADS TX Tân Châu (1); - Bộ phận THA Tòa án (1); - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1); - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QL&NVLQ; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Huỳnh Thị Bạch Tuyết Huỳnh Thị Bạch Tuyết |