vanban.org

Bản án 08/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Kon Tum, tỉnh Kon Tum Tuyên án 18/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Duy Ph phạm tội “Tội trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 10 Nghị định 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 của Chính phủ quy định về Chứng minh nhân dân. Giao cho cơ quan thi hành án phạt tù nơi bị cáo chấp hành án phạt tù tạm giữ 01 chứng minh nhân dân số 21… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Duy Ph phạm tội “Tội trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 10 Nghị định số 05/1999/NĐ-CP Về chứng minh nhân dân; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ KONTUM
TỈNH KONTUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08 /2022/HS-ST.
Ngày: 18/01/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM - TỈNH KONTUM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Nghiên.

Các Hội thẩm nhân nhan dân: 1/ Ông Trương Quang Ngọc

2/ Bà Lê Thị Ngọc Phượng.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên Toà: Bà Bùi Thị Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Kon tum.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum tham gia phiên toà:

Bà Đỗ Thị Quyên- Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 166/2021/HSST ngày 23 tháng 12 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02 ngày 04/01/2022 đối với bị cáo:

Phạm Duy Ph

Sinh ngày: 13 tháng 9 năm 1979, tại tỉnh Quảng Ngãi;

Nơi cư trú: Thôn Trà Lâm, xã Bình Khương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; Nơi ở hiện nay: 04 Tuệ Tĩnh, phường Quang Trung, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 3/12;.

Con ông Phạm Viết Tùng, sinh năm 1959 và bà Đinh Thị Muộn; Sinh năm: 1959;

Vợ: Sử Thị Hải, sinh năm 1980; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2013;

Tiền sự: Không;

Tiền án: 01 tiền án, ngày 04/11/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Chưa được xóa án tích)

Nhân thân: Ngày 28/8/2003, bị Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã xóa án tích).

Ngày 14/5/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã xóa án tích)

Ngày 03/02/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Quãng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã xóa án tích)

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/9/2021 đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn Hải, sịnh năm 1970.(Vắng mặt)

Trú tại: Tổ 11, phường Quang Trung, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biễn tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 02/9/2021, Phạm Duy Ph (sinh ngày 13/9/1979, HKTT: thôn Trà Lâm, xã Bình Khương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) đi bộ từ nhà nghỉ Mười Đức tại số 04 Tuệ Tĩnh, phường Quang Trung, thành phố Kon Tum đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kon Tum thuộc tổ 5, phường Quang Trung, thành phố Kon Tum, rồi trèo qua hàng rào, đột nhập vào trong bệnh viện với mục đích tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Sau đó, Ph đi lên Khoa Nội tổng hợp ở tầng 5 của tòa nhà B rồi nằm ngủ trên ghế ngoài hành lang để đợi bệnh nhân và người nhà đi ngủ. Đến khoảng 01 giờ ngày 03/9/2021, Ph thức dậy và đi tìm kiếm tài sản trộm cắp, nhìn thấy cửa phòng bệnh nhân Nguyễn Văn Hải (sinh năm: 1970, trú tại: tổ 11, phường Quang Trung, thành phố Kon Tum) ở khoa Nội tổng hợp còn mở, Ph đi vào trong phòng, phát hiện chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus, màu đen của anh Hải để trên tủ gần đầu giường, anh Hải đã ngủ, Ph lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần rồi đi ra ngoài, khi vừa ra đến hành lang thì bị Phòng Cảnh sát hình sự - Công an tỉnh Kon Tum bắt quả tang.

Tại Kết luận định giá số 59/KL-HĐ ngày 07/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Kon Tum kết luận: Tổng giá trị của chiếc điện thoại Iphone 7 Plus là 7.775.000 đồng (Bảy triệu bảy trăm bảy mươi lăm ngàn đồng).

Tại bản cáo trạng số 04/CTr-VKSNDTPKT ngày 22/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo Phạm Duy Ph về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự: Xử phạt các bị cáo Phạm Duy Ph từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù và đề nghị xét miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tự bào chữa cho hành vi của mình và không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Kon Tum, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Duy Ph đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trước đây tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở để khẳng định:

Vào khoảng 01 giờ ngày 03/9/2021, tại khoa Nội tổng hợp - Bệnh viện đa khoa tỉnh Kon Tum, Phạm Duy Ph lợi dụng lúc các bệnh nhân và người nhà đã đi ngủ, lén lút đi vào phòng của bệnh nhân Nguyễn Văn Hải trộm cắp 01 chiếc điện thoại Iphone 7Plus, màu đen của anh Hải để trên tủ gần đầu giường, tại thời điểm bị chiếm đoạt, chiếc điện thoại có giá trị 7.775.000 đồng. Vì vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận Hành vi của bị cáo Phạm Duy Ph đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, thể hiện sự coi thường pháp luật; đồng thời gây mất trật tự trị an xã hội, tạo tâm lý hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản và tác động xấu đến đời sống của nhân dân tại địa phương. Ngày 04/11/2019 bị cáo Ph đã bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tính, nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Chứng tỏ bị cáo là người lười lao động không chịu rèn luyện, tu dưỡng bản thân. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, nên cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định là cần thiết, có như vậy mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt sau này, cũng như răn đe và phòng ngừa chung trước tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu đang ngày càng gia tăng, phức tạp như hiện nay.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội do tái phạm nên phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, gây thiệt hại về tài sản không lớn, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, nên cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự năm 2015 đề xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt.

Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu.

Ngày 28/8/2003, bị Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích).

Ngày 14/5/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích)

Ngày 03/02/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Quãng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã xóa án tích)

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên xét miễn hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc điện thoại Iphone 7Plus, màu đen và đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu anh Nguyễn Văn Hải là đúng quy định của pháp luận nên Hội đồng xét xử không đề cập đến;

Đối với 01 chứng minh nhân dân mang tên Phạm Duy Ph, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo Phạm Duy Ph sau khi chấp hành xong án phạt tù. Theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 10 Nghị định 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 của Chính phủ .

Về Trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn Hải đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xét.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Duy Ph phạm tội “Tội trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Duy Ph 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, ngày 03/9/2021.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 10 Nghị định 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 của Chính phủ quy định về Chứng minh nhân dân. Giao cho cơ quan thi hành án phạt tù nơi bị cáo chấp hành án phạt tù tạm giữ 01 chứng minh nhân dân số 212319884 mang tên Phạm Duy Ph, Công an tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 12/7/2018 trong thời gian bị cáo chấp hành án phạt tù. Bị cáo được nhận lại chứng minh nhân dân sau khi chấp hành xong án phạt tù.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 22 tháng12 năm 2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Kon Tum với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTV Quốc Hội.

Buộc bị cáo Phạm Duy Ph phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (18/01/2022) bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo trình tự Phc thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ