vanban.org

Bản án 08/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 19/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô Văn C 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật…"
  • Tòa quyết gì? 1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM BÌNH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2022/HS-ST
Ngày 19 – 01 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Kiên Nhẫn

2. Ông Nguyễn Hoàng Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Huyền – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phạm Trung Hảo – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Ngô Văn C, sinh năm 1998 tại huyện TB, tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: ấp PHT, xã PT, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn T và bà Lê Thị Thúy H.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Đặng Văn C1, sinh năm 1992 (có mặt)

Nơi cư trú: ấp PHT, xã PT, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long.

- Người làm chứng:

1/ Anh Đặng Đức K, sinh năm 1983 (vắng mặt)

2/ Anh Đặng Văn N, sinh năm 2000 (vắng mặt)

3/ Anh Ngô Văn T1, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Cùng nơi cư trú: ấp PHT, xã PT, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Văn C và Đặng Văn C1 là bạn bè thường đi chơi chung với nhau. Vào khoảng 18 giờ ngày 14/5/2021, C, C1 cùng với hai người bạn tên K và N có tham gia tiệc rượu tại nhà của ông Đặng Văn H1, sinh năm 1959, ngụ ấp PHT, xã PT, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long. Sau đó, cả bốn người rủ nhau đi đến xã ĐT, thị xã BM, tỉnh Vĩnh Long để uống bia. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, trong lúc đang ngồi uống bia thì giữa Ngô Văn C và Đặng Văn C1 xảy ra mâu thuẫn, cự cãi và C thách thức đánh lộn với C1 thì được C1 thách thức lại “có gì về Mù U đánh”. C đi ra xe chạy về nhà, còn C1, K và N về sau.

Đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì C về đến nhà và đi ra phía sau nhà lấy một con dao bằng kim loại dài 62cm cầm trên tay đi trở ra cửa thì thấy C1, K và N chạy xe vào sân nhà C. C1 xuống xe, rút lấy 02 vỏ chai bia ở phía trước sân cầm trên hai tay rồi đi xông tới hướng của C. C1 cầm hai vỏ chai bia chọi 02 lần vào người của C nhưng không trúng nên C1 bỏ chạy thì bị C cầm dao rượt đuổi. Khi C1 chạy ra sát đường đal thì bị vấp chiếc võng nên té ngã. C cầm dao xông tới chém trúng vào đầu gối của C1 thì được mọi người can ngăn. C1 được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế thị xã BM, sau đó được chuyển đến Bệnh viện đa khoa Hoàn Mỹ Cửu Long để điều trị đến ngày 18/5/2021 thì xuất viện.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 122/2021/TgT ngày 01/10/2021 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Vĩnh Long kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vết thương gối trái kích thước 11 x 0,2 cm do vật sắc gây ra thấu khớp gối, gãy lồi cầu trong xương đùi trái.

- Được điều trị phẫu thuật kết hợp xương. Hiện tại không di chứng.

2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đặng Văn C1 do thương tích gây nên hiện tại là 16% (Mười sáu phần trăm).

Vật chứng được Ngô Văn C giao nộp: 01 dao tự chế dài 62cm, cán bằng gỗ dài 23cm, phần lưỡi là kim loại màu đen.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 21.987.000 đồng theo yêu cầu của bị hại nhưng hiện nay chưa bồi thường.

Tại Cáo trạng số: 71/CT-VKSTB ngày 07/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình đã truy tố bị cáo Ngô Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Ngô Văn C thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình truy tố bị cáo là đúng hành vi, không oan.

Bị hại anh Đặng Văn C1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 21.987.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu bị hại.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Ngô Văn C về tội “Cố ý gây thương tích”. Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Văn C mức án từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015 công nhận sự tự nguyện của bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 21.987.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 dao tự chế dài 62cm, cán bằng gỗ dài 23cm, phần lưỡi là kim loại màu đen.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa thể hiện: Vào khoảng 21 giờ ngày 14/5/2021 trong lúc nhậu chung trên địa bàn thị xã BM thì giữa Ngô Văn C và Đặng Văn C1 xảy ra mâu thuẫn nên C đã bỏ đi về nhà tại ấp PHT, xã PT, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, C về đến nhà và lấy con dao bằng kim loại dài 62cm cầm trên tay ra đứng ở cửa thì thấy C1, K và N chạy xe vào sân nhà C. C1 xuống xe, rút lấy 02 vỏ chai bia ở phía trước sân nhà của C cầm trên hai tay rồi đi xông tới hướng của C. C1 cầm hai vỏ chai bia ném 02 lần vào người của C nhưng không trúng nên C1 bỏ chạy thì bị C cầm dao rượt đuổi. Khi C1 chạy ra sát đường đal thì bị vấp chiếc võng nên té ngã. C cầm dao xông tới chém trúng vào đầu gối của C1 thì được mọi người can ngăn. C1 được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế thị xã BM, sau đó được chuyển đến Bệnh viện đa khoa Hoàn Mỹ Cửu Long để điều trị đến ngày 18/5/2021 thì xuất viện, kết quả giám định tỷ lệ thương tích của Đặng Văn C1 là 16% (Mười sáu phần trăm).

Hành vi của bị cáo Ngô Văn C đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của con người, thể hiện ý thức xem thường luật pháp, gây mất trật tự an ninh địa phương. Chỉ vì mâu thuẫn lời nói trong lúc nhậu mà bị cáo không kiềm chế được bản thân dùng dao gây thương tích cho bị hại. Hành vi của bị cáo đáng bị trừng phạt nên cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra nhằm cải tạo bị cáo thành người có ích và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo C đồng ý bồi thường theo yêu cầu của người bị hại Đặng Văn C1 số tiền là 21.987.000 đồng. Xét thấy đây là sự tự nguyện của bị cáo C, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên cần công nhận sự tự nguyện này.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015, công nhận sự tự nguyện của bị cáo C đồng ý bồi thường cho bị hại C1 số tiền 21.987.000 đồng.

Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người bị thi hành án chưa tự nguyện thi hành án xong thì phải chịu thêm phần tiền lãi trên số tiền phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với khoản thời gian chưa thi hành án xong.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 dao tự chế dài 62cm, cán bằng gỗ dài 23cm, phần lưỡi là kim loại màu đen.

Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, vụ án ngày 08/12/2021.

Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Ngô Văn C phải nộp tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô Văn C 02 (Hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự:

2.1 Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015

Công nhận sự tự nguyện của bị cáo Ngô Văn C đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại Đặng Văn C1 số tiền 21.987.000 đồng (Hai mươi mốt triệu chín trăm tám mươi bảy ngàn đồng).

2.2 Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người bị thi hành án chưa tự nguyện thi hành án xong thì phải chịu thêm phần tiền lãi trên số tiền phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với khoản thời gian chưa thi hành án xong.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy 01 dao tự chế dài 62cm, cán bằng gỗ dài 23cm, phần lưỡi là kim loại màu đen.

Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, vụ án ngày 08/12/2021.

4. Về án phí sơ thẩm:

4.1 Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Ngô Văn C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4.2 Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Ngô Văn C phải nộp 1.099.000đ (Một triệu không trăm chín mươi chín ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ