vanban.org

Bản án 08/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 25/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Bảo N phạm tội Cố ý gây thương tích.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Bảo N 07 (bẩy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 29/12/2021. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Trần Bảo N phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Mã Văn T số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng)… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Bảo N - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Bảo N phạm tội Cố ý gây thương tích.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÌNH LẬP
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2022/HS-ST
Ngày 25-4-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÌNH LẬP, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lành Thị Vệ

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Mã Thị Hiển;

Bà Hà Thúy Liêm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Long - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20 và 25 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2022/TLST/HS ngày 16 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Bảo N, sinh ngày 20 tháng 6 năm 2000, tại thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu *, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc S (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1977; có vợ là Vũ Thị Minh T, sinh năm 2001 và 01 con; tiền án: không có; tiền sự: có 01 tiền sự theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 22/QĐ-XPHC, ngày 02/8/2021 của Công an thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 750.000 đồng về hành đánh nhau (chưa được xóa tiền sự); nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/12/2021 đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Bảo N: Ông Nguyễn Huy X – Luật sư của Văn phòng Luật sư N thuộc đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Bị hại: Anh Mã Văn T, sinh năm 1991; địa chỉ: Khu *, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Trương Văn T, có mặt.

2. Anh Nguyễn Đức C, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 15/12/2021 tại khu vực quán ốc của chị Vi Thị N ở khu *, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn Trần Bảo N đã có hành vi dùng dao gấp đâm liên tiếp 03 phát từ phía sau trúng vào lưng và bả vai của Mã Văn T gây thương tích 03%.

Tại kết luận giám định pháp y về thương tích (tại thời điểm) số 05/PYTT ngày 17/12/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Lạng Sơn đã xác định thương tích của Mã Văn T gồm: Vết thương bả vai trái dài 2,5cm, đã khâu 03 mũi chỉ; vết thương vùng lưng trái dài 2,5cm, đã khâu 02 mũi chỉ; Xây xước, bầm tím vùng lưng phải, kích thước 01 x 0,6cm. Kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm: Đa vết thương vùng bả vai trái, lưng trái, lưng phải 02%; cơ chế hình thành vết thương do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích (bổ sung) số 32/2022/PYTT ngày 26/01/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Lạng Sơn xác định thương tích của Mã Văn T gồm: Sẹo vết thương vùng bả vai trái, kích thước 2,4 x 0,3 cm tỷ lệ tổn thương cơ thể 01%; Sẹo vết thương vùng lưng trái, kích thước 2,5 x 0,2 cm tỷ lệ tổn thương cơ thể 01%; Sẹo vết xây xước vùng lưng phải, kích thước 0,5 x 0,2 cm tỷ lệ tổn thương cơ thể 01%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%. Cơ chế hình thành vết thương do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên.

Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKSĐL ngày 14/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Bảo N khai nhận: Khoảng cuối năm 2020 Trần Bảo N có vay của Mã Văn T số tiền khoảng 8.000.000 đồng. Mã Văn T đã nhiều lần đòi tiền nhưng Trần Bảo N chưa trả tiền. Đến cuối tháng 8/2021 Mã Văn T mang bát gạo và hương đến trước cổng nhà Trần Bảo N chụp ảnh, đăng facebook dẫn đến Trần Bảo N và Mã Văn T xảy ra mâu thuẫn. Đến khoảng 21 giờ ngày 15/12/2021 Trần Bảo N cùng với Sái Văn T, Hà Thanh T, Đinh Hoàng Đ, Nguyễn Đức C đến quán của chị Vi Thị N để ăn ốc và uống rượu. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày khi đang uống rượu thì Hà Thanh T nhìn thấy Mã Văn T cùng Đặng Thanh T, Trương Văn T, Vi Tiến T và Nguyễn Thành C cùng ngồi ăn ốc uống rượu trong quán ngồi khác bàn với nhóm của Hà Thanh T. Do quen biết từ trước nên Hà Thanh T gọi mời Mã Văn T sang bàn của nhóm Hà Thanh T ăn ốc, uống rượu cùng thì Mã Văn T nói là tý nữa sang. Trần Bảo N trông thấy Mã Văn T thì muốn tránh mặt nên nói với mọi người là có con nhỏ xin về trước. Sau đó Trần Bảo N đi ra khỏi quán để lấy xe đi về, khi ra đến cửa quán sợ bị Mã Văn T đánh nên Trần Bảo N cầm chùm chìa khóa xe máy của mình trên tay có con dao gấp, chuôi dao dài khoảng 10 cm, lưỡi dao dài khoảng 05 cm, rộng khoảng 01 cm, đầu dao nhọn loại 01 lưỡi, dùng hai tay mở lưỡi dao ra, dùng tay phải cầm vào cán dao để đề phòng. Khi ra đến xe mô tô của Trần Bảo N để chuẩn bị đi về thì Mã Văn T chạy theo ra đứng ở đầu xe và đòi tiền Trần Bảo N nợ nhưng Trần Bảo N không có tiền trả. Thấy Mã Văn T không nói gì mà quay người đi ra xe máy của Mã Văn T dựng cách đó khoảng 3 m để lấy dao. Trần Bảo N nhìn theo hướng Mã Văn T thì thấy tại chỗ giá kẹp đồ trên xe máy của Mã Văn T có 01 con dao quắm, Trần Bảo N nghĩ rằng Mã Văn T đi ra lấy dao để chém mình nên Trần Bảo N đuổi theo Mã Văn T, tay phải cầm dao, hướng mũi dao ra ngoài. Khi Trần Bảo N đuổi đến gần Mã Văn T, lúc này Mã Văn T đang cúi người dùng tay để lấy dao ở xe thì Trần Bảo N ra đứng phía sau, sát bên sườn trái của Mã Văn T, dùng tay phải đâm 03 (ba) phát theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào lưng của Mã Văn T, lúc này Mã Văn T đã lấy được dao quắm để ở xe mô tô quay lại khua dao về phía Trần Bảo N nhưng không trúng. Ngay lúc đó Nguyễn Đức C và Trương Văn T từ trong quán chạy ra can ngăn. Trần Bảo N đâm dao trúng vào phần lưng của Mã Văn T gây chảy máu thì bỏ chạy.

Tại phiên tòa bị hại Mã Văn T trình bày: Ngày 15/12/2021 anh bị Trần Bảo N dùng dao đâm vào bả vai và lưng gây thương tích 03%. Sau khi bị đánh anh đã điều trị tại Trung tâm y tế huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn trong thời gian 07 ngày, từ ngày 15/12/2021 đến ngày 21/12/2021 được ra viện. Bị hại cho rằng không đồng ý với các kết luận giám định thương tích và đề nghị giám định lại tỷ lệ tổn thương cơ thể. Về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bị hại yêu cầu bồi thường các khoản gồm: tiền viện phí, chi phí ăn uống đi lại và khám bệnh tại Bệnh viện là 2.651.000 đồng, tiền mất thu nhập của bị hại từ ngày 16/12/2021 đến ngày 16/01/2022 là 15.000.000 đồng; tiền mất thu nhập của người chăm sóc trong 1 tuần là 3.500.000 đồng; Thiệt hại công trình làm cửa nhôm và mái tôn không làm được trong thời gian điều trị vết thương là 8.849.000 đồng; bồi thường tổn thất tinh thần và sức khỏe là 10.000.000 đồng. Tổng các khoản yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe là 40.000.000 đồng. Ngoài ra bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với chiếc áo mặc trên người khi bị cáo đâm vào người bị hại đã làm hư hỏng với số tiền là 500.000 đồng. Về trách nhiệm hình sự, bị hại không chấp nhận lời xin lỗi của bị cáo tại phiên tòa và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hình phạt đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn vẫn giữ nguyên quyết định đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Bảo N phạm tội Cố ý gây thương tích. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Bảo N 07 (bẩy) tháng đến 08 (tám) tháng tù. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo đã nhất trí bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm số tiền 20.000.000 đồng cho bị hại nhưng bị hại không đồng ý, đại diện viện kiểm sát thấy rằng số tiền bồi thường này là hợp lý nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị hại chấp nhận số tiền bồi thường là 20.000.000 đồng. Ngoài ra đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại về việc bồi thường thiệt hại đối với chiếc áo là 500.000 đồng. Về vật chứng: Áp dụng khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 con dao gấp màu trắng bằng kim loại, dài 16,5cm, chuôi dao dài 10cm, lưỡi dao dài khoảng 6,5cm, chiều rộng lưỡi dao 1,5cm, loại dao một lưỡi mũi nhọn; 01 áo khoác màu đen, vàng, nâu rằn ri, phần lưng áo có chữ “The NORTH FACE” tại mặt ngoài của lưng áo có 03 vết rách dài 4,5cm, 1,5cm và 0,5cm. Trả cho anh Mã Văn T 01 còn dao quắm dài 40 cm, phần lưỡi dao dài 27 cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 5,5cm, phần chuôi cán dao dài 11cm, đường kính 3,5 cm. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Bảo N trình bày: Nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về tội Cố ý gây thương tích theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng không nhất trí về mức hình phạt mà đại diện viện kiểm sát đã đề nghị. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đủ điều kiện áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo theo Nghị quyết 02/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 65, điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 1, 2, 3, 4, 5 Nghị quyết 02/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt và cho hưởng án treo. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định của pháp luật bị hại chỉ phải bồi thường tổng các khoản với số tiền là 11.891.000 đồng nhưng bị cáo đã nhất trí bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận mức bồi thường thiệt hại với số tiền là 20.000.000 đồng.

Ý kiến trình bày và tranh luận của bị hại anh Mã Văn T: Bị hại không đồng ý với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, bị hại cho rằng bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội giết người nhưng chưa đạt. Về trách nhiệm hình sự đề nghị tăng mức hình phạt đối với bị cáo. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm không nhất trí với mức bồi thường bị cáo đưa ra và Viện kiểm sát đề nghị mà giữ nguyên mức yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là 40.000.000 đồng. Về bồi thường thiệt hại đối chiếc áo bị hư hỏng thì giữa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được nên không có ý kiến gì. Ngoài ra bị hại đề nghị Hội đồng xét xử nghị án kéo dài để bị hại cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu bồi thường khoản tiền mất thu nhập do công trình làm cửa nhôm và mái tôn không thực hiện được trong thời gian điều trị vết thương.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo đã xin lỗi bị hại, tỏ thái độ ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng Nguyễn Đức C nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Xét thấy, việc vắng mặt người làm chứng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 22 giờ ngày 15/12/2021 bị cáo Trần Bảo N có hành vi dùng dao gấp đâm vào lưng và bả vai Mã Văn T gây thương tích 03% tổn hại sức khỏe. Ngày 16/12/2021 Mã Văn T có đơn yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Do đó có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội Cố ý gây thương tích quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn truy tố đối với bị cáo Trần Bảo N là đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

Về nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại đều thừa nhận trước khi xảy ra sự việc hai bên đã có mâu thuẫn với nhau từ việc vay nợ tiền. Khi gặp nhau tại quán bị cáo đã cố ý tránh mặt nhưng bị hại đuổi theo và hai bên tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Do bị cáo nghi ngờ Mã Văn T sẽ có hành vi gây thương tích cho mình nên khi thấy Mã Văn T đi ra xe để lấy dao bị cáo đã dùng dao đâm bị hại gây thương tích. Vì vậy xác định hành vi của bị cáo có tính bột phát, không có sự chuẩn bị từ trước.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải; hành vi phạm tội của bị cáo là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo đã bị Công an thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau, chưa được xóa tiền sự, do đó bị cáo là người có nhân thân xấu.

Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, xét thấy, mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Nhưng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Xét thấy, thương tích của anh Mã Văn T là do bị cáo Trần Bảo N trực tiếp gây ra, do đó việc anh Mã Văn T yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường là có căn cứ. Tại phiên tòa bị cáo và bị hại không thỏa thuận, thống nhất được việc bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự để xem xét giải quyết.

Đối với chi phí khám chữa bệnh và tiền thuốc: Anh Mã Văn T cung cấp hóa đơn viện phí khám chữa bệnh và tiền thuốc với tổng số tiền hết 899.000 đồng. Đây là các chi phí hợp lý nên cần chấp nhận.

Tiền mất thu nhập của bị hại: Việc bị hại nghỉ làm để điều trị vết thương do bị cáo gây ra làm mất thu nhập nên bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường là chính đáng, tuy nhiên bị hại làm nghề lao động cơ khí (làm nghề mái tôn, sắt, cổng sắt) nhưng không có tài liệu để chứng minh về mức thu nhập của bị hại 15.000.000 đồng/tháng mà bị hại đã đưa ra. Căn cứ biên bản xác minh ngày 11/3/2022 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn cung cấp thông tin về mức thu nhập của người lao động cơ khí và mức thu nhập trung bình của người lao động phổ thông trên địa bàn thị trấn L là 4.416.000 đồng/người/tháng, tương đương với 147.200 đồng/người/ngày. Do đó, cần tính cho bị hại bị mất thu nhập trong những ngày điều trị tại bệnh viện là 07 ngày và sau khi ra viện là 23 ngày với số tiền là: 30 ngày x 147.200 đồng = 4.416.000 đồng.

Tiền mất thu nhập của người phục vụ: Trong thời gian bị hại nằm viện có mẹ đẻ là bà Hoàng Thị N vào viện chăm sóc nên cần tính tiền mất thu nhập của người phục vụ trong thời gian nằm viện là 07 ngày x 147.200đ/ngày = 1.030.400 đồng, làm tròn số là 1.030.000 đồng.

Về khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần: Với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và hậu quả đã xảy ra, cần buộc bị cáo bồi thường cho bị hại 02 tháng lương cơ sở, cụ thể: 02 tháng x 1.490.000 đồng = 2.980.000 đồng.

Tiền bồi dưỡng sức khỏe: Bị hại bị tổn thương về sức khỏe nên chấp nhận tiền bồi dưỡng sức khỏe cho bị hại trong thời gian nằm viện, với số tiền là 07 ngày x 147.200 đồng/ngày = 1.030.400 đồng, làm tròn số là 1.030.000 đồng.

Tiền xe đi khám, tại phiên tòa anh Mã Văn T khai tiền thuê xe đi viện khám lại hết 500.000đ/lượt x 02 lượt = 1.000.000 đồng. Đây là khoản tiền chính đáng nên cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền này.

Đối với việc bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường khoản tiền mất thu nhập do công trình làm cửa nhôm và mái tôn không thực hiện được trong thời gian điều trị vết thương với tổng số tiền là 8.849.000 đồng. Xét thấy, khoản tiền mất thu nhập của bị hại trong thời gian trong viện và sau khi đi viện về để điều trị vết thương đã được tính ở mục [12] do đó không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu này. Tuy nhiên, việc không thực hiện được hợp đồng bị hại đã phải mất tiền phạt vi phạm hợp đồng với số tiền 3.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử chấp nhận khoản tiền bị hại đã bỏ ra để bồi thường vi phạm hợp đồng là 3.000.000 đồng.

Từ những phân tích nêu trên, bị cáo phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại các khoản gồm: Tiền chi phí khám, chữa bệnh, tiền thuốc 899.000 đồng + tiền mất thu nhập 4.416.000 đồng + tiền bồi dưỡng sức khỏe 1.030.000 đồng + tiền bù đắp tổn thất tinh thần 2.980.000 đồng + tiền công người phục vụ 1.030.000 đồng + tiền thuê xe khám chữa bệnh 1.000.000 đồng + tiền bị hại bị phạt hợp đồng 3.000.000 đồng. Tổng cộng bị cáo phải bồi thường 14.355.000 đồng. Do bị cáo đồng ý bồi thường tổng số tiền 20.000.000 đồng là có lợi cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo, buộc bị cáo bồi thường 20.000.000 đồng là phù hợp.

Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm: Quá trình thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã làm hư hỏng chiếc áo bị hại đang mặc trên người, do đó bị hại yêu cầu bồi thường là có căn cứ. Tại phiên tòa bị cáo và bị hại thỏa thuận mức bồi thường thiệt hại với số tiền là 500.000 đồng. Xét thấy việc thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện không trái quy định của pháp luật, không vi phạm các quy định khác nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao gấp màu trắng bằng kim loại liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị và 01 áo khoác màu đen, vàng, nâu rằn ri không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng không có giá trị nên tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 con dao quắm không liên quan đến hành vi phạm tội trả lại cho chủ sở hữu.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải bồi thường thiệt hại sức khỏe, tài sản bị xâm phạm cho bị hại tổng số tiền là 20.500.000 đồng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo điểm c khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, bị cáo đã nộp 20.000.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn trước khi mở phiên tòa nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền này. Bị cáo còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm 500.000 đồng chưa bồi thường.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn về tội danh, mức hình phạt là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với đề nghị của người bào chữa về việc áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Xét thấy, trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây thương tích chưa được xóa tiền sự nên bị cáo là người có nhân thân xấu. Căn cứ Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Đối với yêu cầu của bị hại đề nghị giám định lại, thấy rằng: Tại kết luận giám định pháp y về thương tích (tại thời điểm) số 05/PYTT ngày 17/12/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Lạng Sơn kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm: Đa vết thương vùng bả vai trái, lưng trái, lưng phải 02%; cơ chế hình thành vết thương do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích (bổ sung) số 32/2022/PYTT ngày 26/01/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Lạng Sơn xác định thương tích của Mã Văn T gồm: Sẹo vết thương vùng bả vai trái, kích thước 2,4 x 0,3 cm tỷ lệ tổn thương cơ thể 01%; Sẹo vết thương vùng lưng trái, kích thước 2,5 x 0,2 cm tỷ lệ tổn thương cơ thể 01%; Sẹo vết xây xước vùng lưng phải, kích thước 0,5 x 0,2 cm tỷ lệ tổn thương cơ thể 01%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%. Cơ chế hình thành vết thương do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên. Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích nêu trên do cơ quan có thẩm quyền ban hành; kết quả giám định được căn cứ và thực hiện đúng quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế; không có căn cứ chứng minh giám định viên không vô tư khách quan khi tiến hành giám định. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu giám định lại.

Đối với ý kiến tranh luận của bị hại cho rằng bị cáo phạm tội Giết người chưa đạt. Xét thấy, bị cáo không có mục đích tước đoạt tính mạng của bị hại, hành vi của bị cáo không tấn công vào các vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại, sau khi gây thương tích bị hại đã bỏ chạy và hậu quả hành vi của bị cáo chỉ gây thương tích 03% tổn thương cơ thể. Do đó, hành vi của bị cáo không cấu thành tội giết người.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 293; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào các Điều 357, 468, 584, 585, 589, 590 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 23; khoản 4, 8 Điều 26, điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Bảo N phạm tội Cố ý gây thương tích.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Bảo N 07 (bẩy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 29/12/2021.

3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Trần Bảo N phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Mã Văn T số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Xác nhận bị cáo đã nộp đủ số tiền bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số AA/2021/0004124, ngày 15/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn.

Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại về bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm là 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng nếu bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.

4. Về xử lý vật chứng:

4.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao gấp màu trắng bằng kim loại, dài 16,5cm, chuôi dao dài 10cm, lưỡi dao dài khoảng 6,5cm, chiều rộng lưỡi dao 1,5cm, loại dao một lưỡi mũi nhọn; 01 áo khoác màu đen, vàng, nâu rằn ri, phần lưng áo có chữ “The NORTH FACE” tại mặt ngoài của lưng áo có 03 vết rách dài 4,5cm, 1,5cm và 0,5cm.

4.2. Trả cho anh Mã Văn T: 01 con dao quắm dài 40 cm, phần lưỡi dao dài 27 cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 5,5cm, phần chuôi cán dao dài 11cm, đường kính 3,5 cm.

(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15 tháng 3 năm 2022 giữa Công an huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn).

5. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Bảo N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Tổng cộng là 500.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ