- Tranh chấp gì? án hình sự — "Le T - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 31/2022/HS-ST ngày 14/9/2022 của Toà án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2022/HS-PT Ngày 28 - 11 -2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Năm.
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Bé.
Bà Lê Thị Mỹ Giang.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Phong – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Bình – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 15/2022/TLPT-HS ngày 21 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Lê T do có kháng cáo của bị cáo Lê T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2022/HS-ST ngày 14/9/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Lê T, sinh ngày 21 tháng 3 năm 1993 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Sửa chữa thiết bị điện tử; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quốc T và bà Bùi Thị Kim L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 09/5/2022, Lê T cùng Lê Q uống rượu tại quán lẫu bò Dương ở tổ dân phố Vĩnh B, phường P, thị xã Đ; đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát xxHx – xxx.xx chở V về nhà. Khi đến vòng xuyến giao nhau giữa đường N với đường T, thuộc tổ dân phố 5, phường N, thị xã Đ thì có xe ô tô tải biển kiểm soát yyH – yyy.yy do Bùi Văn H điều khiển theo hướng Bắc – Nam cùng chiều phía sau vượt lên bên trái xe của T. Khi xe ô tô do Hậu điều khiển vượt qua xe mô tô do T điều khiển, T cho rằng xe ô tô tải H điều khiển ép mình, nên điều khiển xe mô tô chạy đuổi theo để chặn xe ô tô do H điều khiển lại. Lúc này V có khuyên T nhưng T không nói gì mà tiếp tục điều khiển xe mô tô đuổi theo; khi đến đoạn đường trước nhà số 482 đường N, T vượt lên và dừng xe ở giữa làn đường xe cơ giới phía Tây chặn xe ô tô do H điều khiển lại, V dắt xe mô tô dựng vào lề đường phía tây, còn T đi tới phía trước bên trái đầu xe ô tô yêu cầu lái xe H xuống để nói chuyện, nhưng H vẫn ngồi trong ca bin xe đóng kín cửa; T tháo mũ bảo hiểm đang đội trên đầu, trèo lên đứng trên bậc lên xuống bên trái ca bin, tay trái nắm giữ cần kính chiếu hậu, tay phải cầm mũ bảo hiểm đập 03 cái vào kính cửa bên trái làm bể kính. Lúc này V chạy đến kéo T xuống xe và ôm giữ T lại, nhưng T hất ra; T đến phía trước đầu xe ô tô và tiếp tục cầm mũ bảo hiểm đập một cái vào kính chắn gió phía trước làm bể nứt hình mạng nhện. Đập xong, T điều khiển xe mô tô về nhà, còn V đến tiệm sửa máy tính của T gần đó lấy xe mô tô về nhà. Sau đó Bùi Văn H điện thoại báo cho cơ quan Công an đến làm việc.
Tại kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: Giá trị tài sản thiệt hại của một xe ô tô tải (có mui), biển kiểm soát yyH – yyy.yy, nhãn hiệu ISUZU, năm, nước sản xuất 2021, trong vụ án: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” xảy ra tại tổ dân phố 2, phường N, thị xã Đ ngày 09/5/2022 là 9.270.000 đồng.
Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2022/HS-ST ngày 14/9/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Tuyên bố bị cáo Lê Tphạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;
- Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 22/9/2022, bị cáo Lê T kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ Luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật và xử phạt bị cáo Lê T 06 tháng tù là cần thiết. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt bản án hình sự sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi của bị cáo Lê T: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 09/5/2022, bị cáo Lê T đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát xxHx – xxx.xx chở Lê Quang V đi trên đường thì có xe ô tô tải biển kiểm soát yyH – yyy.yy do Bùi Văn H điều khiển đi cùng chiều phía sau vượt qua xe mô tô do T điều khiển. T cho rằng xe ô tô tải do anh H điều khiển ép mình, nên điều khiển xe mô tô chạy đuổi theo vượt lên và dựng xe ở giữa làn đường xe cơ giới chặn xe ô tô lại và yêu cầu anh H xuống xe ô tô nói chuyện nhưng anh H không xuống nên T tháo mũ bảo hiểm đang đội đi đến đập bể kính cửa bên trái và kính chắn gió phía trước của xe ô tô tải biển kiểm soát yyH – yyy.yy, gây thiệt hại là 9.270.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử Lê T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ Luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Lê T, thì thấy: Bị cáo và anh Bùi Văn H không có mâu thuẫn gì với nhau, anh H điều khiển xe ô tô lưu thông trên đường vượt qua xe mô tô do bị cáo điều khiển nhưng không va chạm gì với xe mô tô của bị cáo, bị cáo vô cớ chặn xe ô tô anh H điều khiển và đập phá xe ô tô gây thiệt hại 9.270.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính côn đồ, xem thường pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cân nhắc về nhân thân, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo, xử phạt bị cáo với mức hình phạt 06 tháng tù là cần thiết. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê T, giữ nguyên mức hình phạt bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Lê T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 31/2022/HS-ST ngày 14/9/2022 của Toà án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Lê T 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
2. Bị cáo Lê T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Trần Thị Bé Lê Thị Mỹ Giang | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Năm |