vanban.org

Bản án 08/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chìu Thị Ng về việc “tranh chấp về hôn nhân và gia đình”.

Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Chìu Thị Ng được ly hôn với anh Phùn Văn Th. Về con chung: giao các con chung Phùn Minh H, sinh ngày 08/02/2014 và Phùn Minh Ngh, sinh ngày 20/02/2016 cho anh Phùn Văn Th là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chìu Thị Ng - Phùn Văn Th"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chìu Thị Ng về việc “tranh chấp về hôn nhân và gia đình”.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28 - 01 - 2022
V/v tranh chấp về hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Dương Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thế Căn và bà Đinh Thanh Hoàn

- Thư ký phiên tòa: bà Đặng Thu Trang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tham gia phiên toà: ông Vương Hải Nam, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 165/2021/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2021 về “tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2022/QĐ-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Chìu Thị Ng, sinh năm: 1998; Nơi thường trú: Thôn P, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Chỗ ở hiện nay: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh

- Bị đơn: Anh Phùn Văn Th, sinh năm: 1998; Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.

Chị Ng vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; Anh Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/8/2021, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và quan điểm thể hiện tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 25/01/2022 của nguyên đơn chị Chìu Thị Ng thể hiện:

- Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Phùn Văn Th chung sống với nhau từ năm 2014 nhưng đến 2019 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hải Sơn, thành phố Móng Cái (Giấy chứng nhận kết hôn, số 08 ngày 26/7/2019) hôn nhân trên cơ sở tình yêu và hoàn toàn tự nguyện. Cuộc hôn nhân giữa chị và anh Th không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Th thường xuyên đánh đập vợ, đập phá nhà cửa, gây ảnh hưởng đến tâm lý và sức khỏe nên chị và anh Th đã ly thân, chị chuyển về gia đình bên ngoại ở Tiên Yên sinh sống. Nay, nhận thấy tình cảm giữa chị và anh Th không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phùn Văn Th.

- Về con chung: quá trình chung sống chị và anh Phùn Văn Th 02 (hai) con chung là Phùn Minh H, sinh ngày 08/02/2014 và Phùn Minh Ngh, sinh ngày 20/02/2016. Tại đơn khởi kiện, chị đề nghị anh Phùn Văn Th nuôi 02 con chung cho đến khi đủ tuổi thành niên.

Tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, do điều kiện cuộc sống của chị chưa đảm bảo nên chị tiếp tục đề nghị nhường quyền cho anh Th nuôi cả hai con chung đến khi đủ 18 tuổi.

Việc cấp dưỡng nuôi con chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: chị trình bày không có, nên không xét.

- Về khoản nợ chung: chị trình bày không có, nên không xét.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các tài liệu gồm: thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ; thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết cho anh Phùn Văn Th. Các văn bản tố tụng trên đều được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về giao nhận văn bản. Qua việc tống đạt các văn bản tố tụng được biết anh Th hiện vẫn đang sinh sống tại thôn P, xã H, thành phố M, khi giao nhận văn bản, có văn bản anh Th nhận trực tiếp, có văn bản anh Th từ chối nhận nhưng đại diện địa phương vẫn thông báo nội dung văn bản, thời gian, địa điểm tiến hành tố tụng nhưng anh Th thể hiện quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh.

Quá trình giải quyết vụ án chị Ng đã cung cấp các chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện gồm: Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); Sổ hộ khẩu (bản sao); Giấy chứng minh nhân dân (bản sao); Căn cước công dân (bản sao); Giấy khai sinh (02 bản sao); Đơn trình bày (bản chính); Vận đơn bưu gửi (bản photo); Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án (bản chính).

Chứng cứ do Tòa án thu thập là: Biên bản xác minh tại UBND xã Hải Sơn, thành phố Móng Cái; Biên bản làm việc về việc vắng mặt bị đơn không tham gia tố tụng; Biên bản về việc không lấy được lời khai của đương sự anh Phùn Văn Th; Biên bản lấy lời khai của các con chung;

Tòa án đã thông báo yêu cầu anh Phùn Văn Th cung cấp chứng cứ là bản chính Giấy chứng nhận kết hôn nhưng anh Th không hợp tác.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái phát biểu như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

+ Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật;

+ Về tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn được đảm bảo và nghiêm chỉnh chấp hành quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS); bị đơn là anh Phùn Văn Th được đảm bảo các quyền và nghĩa vụ đúng quy định của pháp luật theo Điều 70, 72 BLTTDS. Tuy nhiên, anh Th không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 16 Điều 70 BLTTDS.

- Về đường lối giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chìu Thị Ng.

+ Về tình cảm: xử cho chị Chìu Thị Ng được ly hôn với anh Phùn Văn Th.

+ Về con chung: giao con chung Phùn Minh H, sinh ngày 08/02/2014 và Phùn Minh Ngh, sinh ngày 20/02/2016 cho anh Phùn Văn Th là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Việc cấp dưỡng nuôi con chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập.

+ Về tài sản chung: không có.

+ Về khoản nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và căn cứ vào kết quả tranh tụng, hỏi tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: chị Chìu Thị Ng và anh Phùn Văn Th là vợ chồng hợp pháp có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật; chị Ng có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Th nên thuộc trường hợp “tranh chấp về hôn nhân và gia đình”; bị đơn anh Phùn Văn Th hiện đang sinh sống tại thôn P, xã H, thành phố M theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái là Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án.

- Về thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải: quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, khi thực hiện tống đạt bị đơn luôn từ chối nhận văn bản; Tòa án cũng đã thông báo kết quả phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ cho bị đơn. Do đó, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của BLTTDS. Nguyên đơn đã được tiếp cận các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện tại biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 20/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái; nguyên đơn đã thực hiện việc gửi bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện cho bị đơn thể hiện tại phiếu gửi ngày 17/8/2021.

- Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: Tòa án đã tiến hành triệu tập nhiều lần đối với anh Phùn Văn Th và thực hiện giao gửi nhiều lần văn bản đối với anh Th, đại diện địa phương đã xác nhận đã niêm yết, thông báo nội dung các văn bản cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn không đến Tòa án tham gia tố tụng. Tại phiên tòa ngày 12/01/2022, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử đã căn cứ khoản 1 Điều 227 và Điều 233 của BLTTDS hoãn phiên tòa và tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập cho nguyên đơn và bị đơn theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa ngày 28/01/2022, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Do đó, việc Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự đảm bảo đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của BLTTDS.

. Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của chị Chìu Thị Ng, Hội đồng xét xử thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: hôn nhân của chị Chìu Thị Ng và anh Phùn Văn Th là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không có sự quan tâm, chăm sóc chia sẻ, thiếu sự tôn trọng nhau dẫn đến đã ly thân từ đầu năm 2020 đến nay.

Ngoài ra, biên bản xác minh ngày 10/11/2021 tại địa phương thể hiện cơ bản phù hợp với phần trình bày của chị Ng về quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn, thời điểm ly thân đồng thời đã hòa giải cơ sở nhưng không có kết quả. Địa phương xác nhận anh Th vẫn sinh sống cùng 02 con chung tại thôn P, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.

Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án, có văn bản anh Th nhận, có văn bản từ chối nhận nhưng đều không thực hiện cho thấy anh Th không mong muốn hàn gắn quan hệ hôn nhân, đoàn tụ gia đình với chị Ng. Từ đó cho thấy, thực trạng cuộc sống chung giữa vợ chồng chị Ng và anh Th không có hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ và thiếu tôn trọng nhau, hôn nhân thực tế không còn tồn tại là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị Ng, xử cho chị Ng được ly hôn anh Th.

- Về con chung: chị Ng và anh Th có 02 (hai) con chung là Phùn Minh H, sinh ngày 08/02/2014 và Phùn Minh Ngh, sinh ngày 20/02/2016.

Tại biên bản xác minh tại địa phương thể hiện: Hiện nay cả hai con chung đang sinh sống cùng bố là Phùn Văn Th và theo học trường tiểu học Hải Sơn, thành phố Móng Cái.

Tại biên bản lấy lời khai của cháu Phùn Minh H thể hiện: Nếu bố mẹ các cháu ly hôn thì các cháu có nguyện vọng ở với bố là Phùn Văn Th.

Quá trình giải quyết vụ án, chị Ng có quan điểm nhường quyền nuôi con chung cho anh Th nên có cơ sở chấp nhận: giao hai con chung Phùn Minh H, sinh ngày 08/02/2014 và Phùn Minh Ngh, sinh ngày 20/02/2016 cho anh Phùn Văn Th là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung, quá trình giải quyết vụ án chị Ng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tuy nhiên, các đương sự có quyền, nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật; trên cơ sở lợi ích của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về tài sản chung: chị Ng trình bày không có nên không xét.

- Về khoản nợ chung: chị Ng trình bày không có nên không xét.

. Về nghĩa vụ chịu án phí: đây là vụ án dân sự sơ thẩm (ly hôn) không có giá ngạch, nên cần buộc nguyên đơn chị Chìu Thị Ng phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chìu Thị Ng về việc “tranh chấp về hôn nhân và gia đình”.

1. Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Chìu Thị Ng được ly hôn với anh Phùn Văn Th.

2. Về con chung: giao các con chung Phùn Minh H, sinh ngày 08/02/2014 và Phùn Minh Ngh, sinh ngày 20/02/2016 cho anh Phùn Văn Th là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Việc cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Các đương sự có quyền, nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật; Trên cơ sở lợi ích của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về nghĩa vụ chịu án phí: buộc chị Chìu Thị Ng phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị Ng đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0007507 ngày 11/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái. Chị Ng đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ