- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hạnh"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “ Xin ly hôn, nuôi con chung ” của chị Nguyễn Thị H
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2022/HNGĐ-ST. Ngày 23/12/2022. V/v: “Tranh chấp xin ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đoàn Anh Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nương và ông Nguyễn Đăng Sao.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Công Anh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Phan Hà Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2022, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh KonTum xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 53/2022/ TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 07 năm 2022 về tranh chấp “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2022/QĐST-HNGĐ ngày 06/12/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1982. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã S, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 11/7/2022 và các lời khai tại Tòa án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Qua một thời gian tìm hiểu tự nguyện chị và anh Hoàng Văn H đã đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn số 03/ĐKKH ngày 11/01/2013 tại UBND xã S, huyện Sa Thầy, tỉnh KonTum. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đến khoảng tháng 8 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do: vợ chồng bất đồng quan điểm, trong đời sống gia đình và xã hội nên thường xuyên xảy ra cãi vã, anh Hiền có những lời lẽ xúc phạm đến tôi (Hạnh) và gia đình. Tháng 11 năm 2021 chị Hạnh đã làm đơn gửi đến Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy yêu cầu giải quyết ly hôn, anh Hiền hứa thay đổi để vợ chồng đoàn tụ nên chị Hạnh đã làm đơn xin rút đơn khởi kiện để vợ chồng về đoàn tụ. Tuy nhiên, vợ chồng về sống được thời gian ngắn thì anh Hiền vẫn chứng nào tật ấy, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Vì vậy chị Hạnh đã dọn ra thuê phòng trọ ở để ở và sống ly thân với anh Hiền cho đến nay. Nay chị khẳng định không còn tình cảm vợ chồng với anh Hiền nữa và chị kiên quyết xin được ly hôn.
Về con chung: Có 02 con chung là Hoàng Đăng Kh, sinh ngày 08/04/2014 và Hoàng Thiên V, sinh ngày 28/4/2018. Khi ly hôn chị Hạnh có nguyện vọng được nuôi con chung tên là Hoàng Thiên V, sinh ngày 28/4/2018 và anh Hiền nuôi con chung tên là Hoàng Đăng Kh, sinh ngày 08/04/2014. Không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung. Tại phiên tòa, chị Hạnh đề nghị được nuôi cả 02 con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về phía bị đơn anh Hoàng Văn H: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng về việc thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập và kết quả tiếp cận công khai chứng cứ nhưng anh Hoàng Văn H đều vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp bất kỳ tài liệu chứng cứ gì và cũng không yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ theo quy định của pháp luật. Do đó không có ý kiến trình bày của anh Hoàng Văn H trong hồ sơ vụ án.
Tại Biên bản lấy lời khai của người chưa thành niên ngày 23/9/2022 và tại phiên tòa hôm nay. Cháu Hoàng Đăng Kh có nguyện vọng ở với mẹ.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Thầy phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX và thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án:
+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng việc thụ lý vụ án về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự và quan hệ tranh chấp, thu thập chứng cứ theo đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 68, Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự. Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định, việc cấp, gửi và niêm yết, tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát đầy đủ. Thời hạn giải quyết, quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hoạt động giải quyết của Thẩm phán đảm bảo đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn đã được Tòa án tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt. Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với anh Hoàng Văn H.
3. Quan điểm giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Điều 19; Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H.
Về con chung: Giao 02 con chung cho chị Hạnh nuôi dưỡng con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động và tự lập được.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào ý kiến của đương sự tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu theo đơn khởi kiện.
Chị Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy giải quyết ly hôn với anh Hoàng Văn H có nơi cư trú tại thôn Đ, xã S, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum.
Đối với bị đơn anh Hoàng Văn H, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng về việc thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, kết quả tiếp cận công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập nhưng anh Hoàng Văn H vắng mặt không lý do. Do đó, anh Hiền đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, xét xử vắng mặt đối với anh Hoàng Văn H.
Về nội dung vụ án:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn H đăng ký kết hôn trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum vào ngày 11/01/2013. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H: Chị cho rằng, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do: vợ chồng bất đồng quan điểm, trong đời sống gia đình và xã hội nên thường xuyên xảy ra cãi vã, anh Hiền có những lời lẽ xúc phạm đến chị và gia đình. chị Hạnh đã dọn ra thuê phòng trọ để ở và sống ly thân với anh Hiền cho đến nay. Nay chị khẳng định tình cảm vợ chồng không còn và không thể kéo dài cuộc sống chung vợ chồng nữa, chị đề nghị Tòa gải quyết cho chị được ly hôn anh Hiền.
Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Hoàng Văn H không đến Tòa án làm việc, điều này chứng tỏ anh không có thiện chí hàn gắn tình cảm với chị Hạnh. Ngoài ra, tại biên bản xác minh ngày 04/11/2022 đại diện chính quyền địa phương xác nhận: Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng chị Hạnh, anh Hiền là do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Đến nay, vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, chị Hạnh đã thuê phòng trọ ra ở riêng và sống ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay.
Như vậy, việc quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình đã không được thực hiện theo Điều 19 Luật hôn nhân gia đình 2014. Tại phiên tòa, chị Hạnh xác định không còn tình cảm với anh Hiền nữa và yêu cầu Tòa án cho ly hôn
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn H đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Hạnh là có căn cứ. Cần áp dụng Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hạnh, xử cho chị Hạnh được ly hôn anh Hiền.
2.2. Về con chung: Có 02 con chung là Hoàng Đăng Kh, sinh ngày 08/04/2014 và Hoàng Thiên V, sinh ngày 28/4/2018, hiện hai con chung đang do chị Hạnh trực tiếp nuôi dưỡng.
Xét, việc nuôi con chung vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của cha mẹ, việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng cũng phải đảm bảo cho con chung được nuôi dạy trong điều kiện tốt nhất, nguyện vọng của các con được ở với mẹ, thể hiện tại Biên bản lấy lời khai của người chưa thành niên ngày 23/9/2022 và tại phiên Tòa hôm nay. Cháu Hoàng Đăng Kh mong muốn được ở với mẹ.
Tại phiên tòa hôm nay chị Hạnh có nguyện vọng được nuôi 02 con chung tên là Hoàng Đăng Kh, sinh ngày 08/04/2014 và Hoàng Thiên V, sinh ngày 28/4/2018. Không yêu cầu anh Hiền cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy, cần giao con chung cho chị Hạnh tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi và tự lập được.
Chị Hạnh không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2.3. Tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 3 Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 19; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “ Xin ly hôn, nuôi con chung ” của chị Nguyễn Thị H
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hoàng Văn H.
2. Về con chung: Giao con chung tên là Hoàng Đăng Kh, sinh ngày 08/04/2014 và Hoàng Thiên V, sinh ngày 28/4/2018 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, có khả năng lao động, tự lập được. Chị Hạnh không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Hoàng Văn H có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số: 0004123, ngày 11/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15(mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (23/12/2022) nguyên đơn có quyền gửi đơn kháng cáo bản án để xin xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh; - VKSND h. Sa Thầy; - Chi cục THADS h. Sa Thầy; - UBND xã Hơ Moong; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Anh Phƣơng |