vanban.org

Bản án 08/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Huỳnh Thị Hồng Đ và ông Nguyễn Hoàng E.

Về con chung: Không đặt ra xem xét. Về tài sản chung: Bà Huỳnh Thị Hồng Đ xác định bà và ông Nguyễn Hoàng E đã tự thỏa thuận, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Hồng Đ - Nguyễn Hoàng E"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Huỳnh Thị Hồng Đ và ông Nguyễn Hoàng E.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG PHÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2022/HNGĐ - ST.
Ngày: 20 – 01 - 2022.
V/v “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trà Minh Châu.

2. Ông Thạch Thanh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Hữu Toại – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Điều - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 70/2021/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2021/QĐXXST- HNGĐ, ngày 08 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Hồng Đ, sinh năm 1970; địa chỉ: Số nhà x, ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng E, sinh năm 1972; địa chỉ: Ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 18/3/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Huỳnh Thị Hồng Đ trình bày:

Nguyên vào năm 1992, bà Huỳnh Thị Hồng Đ và ông Nguyễn Hoàng E tự nguyện chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn. Bà và ông E chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian dài, sau đó đến tháng 9/2018 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, thường xuyên cải nhau, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, do mâu thuẫn trầm trọng nên bà và ông E đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Trong thời gian chung sống bà và ông E có 02 người con chung tên Nguyễn Huỳnh Thanh Nhân, sinh ngày 05/5/1993 và Nguyễn Huỳnh Kim Ngân, sinh ngày 14/5/2002. Quá trình chung sống bà và ông E có tạo lập được một số tài sản chung nhưng đã tự thỏa thuận với nhau; nợ chung không có.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 17/01/2022, bà Huỳnh Thị Hồng Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu theo nội dung đơn khởi kiện, cụ thể: Về hôn nhân xin được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng E; về con chung: Các người con hiện đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung đã tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng E: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông E, nhưng ông không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông E 02 lần để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông vẫn vắng mặt không lý do. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông E để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

- Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

+ Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Huỳnh Thị Hồng Đ và ông Nguyễn Hoàng E do không đăng ký kết hôn theo quy định.

+ Về con chung: Các người con hiện đã trên 18 tuổi, bà Huỳnh Thị Hồng Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

+ Về tài sản chung: Bà Huỳnh Thị Hồng Đ xác định bà và ông Nguyễn Hoàng E đã tự thỏa thuận, bà không yêu cầu giải quyết trong vụ án nên không đặt ra xem xét.

+ Về nợ chung: Bà Huỳnh Thị Hồng Đ xác định bà và ông Nguyễn Hoàng E không có nợ chung, bà không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn bà Huỳnh Thị Hồng Đ đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và bà Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Hoàng E từ khi tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông E nhưng ông không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông E hai lần để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông vẫn vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa, bị đơn ông E đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Đ và ông E.

Xét yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Hồng Đ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại đơn khởi kiện ngày 18/3/2021, bà Đ xác định từ năm 1992, bà và ông Nguyễn Hoàng E chung sống với nhau như vợ chồng, nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Tuy nhiên theo các chứng cứ bà cung cấp cho Tòa án kèm theo đơn khởi kiện thể hiện ngày 25/12/2018 bà có văn bản yêu cầu Ủy ban nhân dân xã Hậu Thạnh, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xác nhận nội dung bà và ông E có đăng ký kết hôn vào năm 1992 tại Ủy ban nhân dân xã Hậu Thạnh với lý do giấy đăng ký kết hôn đã bị thất lạc, qua tra cứu Ủy ban nhân dân xã Hậu Thạnh có ban hành văn bản số: 267/UBND ngày 26/12/2018 trả lời với nội dung qua trích lục sổ đăng ký kết hôn lưu trữ tại Ủy ban nhân dân xã Hậu Thạnh không tìm thấy tên của bà Huỳnh Thị Hồng Đ và ông Nguyễn Hoàng E. Quá trình Tòa án thu thập chứng cứ, được Ủy ban nhân dân xã Hậu Thạnh và Phòng Tư Pháp huyện Long Phú đều xác định qua tra cứu thì không có tên Huỳnh Thị Hồng Đ và Nguyễn Hoàng E đăng ký kết hôn trong sổ lưu trữ. Ngoài ra tại biên bản lấy lời khai của Tòa án ngày 07/12/2021 thì bà Đ cũng xác định không cung cấp được giấy chứng nhận đăng ký kết hôn giữa bà và ông E cũng như các giấy tờ khác chứng minh việc bà và ông E có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, đủ cơ sở xác định bà Đ và ông E không có đăng ký kết hôn theo quy định. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ chung sống giữa bà Đ và ông E do không đăng ký kết hôn nên không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng và theo quy định tại điểm c khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình thì mối quan hệ chung sống giữa bà Đ và ông E không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Về con chung: Bà Huỳnh Thị Hồng Đ xác định bà và ông Nguyễn Hoàng E có 02 (hai) người con chung tên Nguyễn Huỳnh Thanh N, sinh ngày 05/5/1993 và Nguyễn Huỳnh Kim N, sinh ngày 14/5/2002, hiện nay các người con đã trên 18 tuổi. Bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Huỳnh Thị Hồng Đ xác định bà và ông Nguyễn Hoàng E đã tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét là có căn cứ.

Về nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Huỳnh Thị Hồng Đ xác định bà và ông Nguyễn Hoàng E không có nợ chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét là có căn cứ.

. Về án phí: Bà Huỳnh Thị Hồng Đ phải chịu án phí theo qui định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Ông Nguyễn Hoàng E không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

. Như đã phân tích nêu trên xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú về đề nghị giải quyết về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Huỳnh Thị Hồng Đ và ông Nguyễn Hoàng E.

2. Về con chung: Không đặt ra xem xét.

3. Về tài sản chung: Bà Huỳnh Thị Hồng Đ xác định bà và ông Nguyễn Hoàng E đã tự thỏa thuận, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

4. Về nợ chung: Bà Huỳnh Thị Hồng Đ xác định bà và ông Nguyễn Hoàng E không có, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Hồng Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0007871 ngày 12/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà Đ đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm; ông Nguyễn Hoàng E không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ