- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị N, Phạm Phi L"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 08/2022/HNGĐ-ST Ngày: 27/5/2022 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Tình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Quang Sơn và bông Phạm Hữu Ái.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Vĩnh Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Trâm - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 19/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1992;
Địa chỉ: L 2, TX, HT, BT
- Bị đơn: Ông Phạm Phi L, sinh năm 1990;
Địa chỉ: ĐT, TH, HT, BT
(Bà N và ông L đều có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; ông L có đơn từ chối tham gia tố tụng)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 02 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Huỳnh Thị N trình bày:
Bà và ông Phạm Phi L tự nguyện tìm hiểu, sống chung và đăng ký kết hôn vào ngày 16/12/2015 tại UBND xã Tân Hà, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn ông bà về sống chung với cha mẹ chồng. Quá trình sống chung bà và ông L hạnh phúc được khoảng 01 năm, sau đó thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và hay gây gỗ với nhau. Ngày 01/01/2017, cảm thấy không thể sống chung với ông L được nên bà về nhà cha mẹ đẻ mình sống và ly thân với ông L từ đó cho đến nay . Hiện tình cảm vợ chồng không còn, không thể sống chung với nhau được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông L.
Bà và ông L có 01 con chung là cháu Phạm Duy M, sinh ngày 10/9/2017, từ khi sinh cháu thì cháu ở với bà ở nhà bà ngoại. Ngày 08/02/2022, ông L đến đưa cháu về nhà và giữ cháu lại không cho bà nuôi dưỡng từ đó cho đến nay, bà đề nghị Tòa án giao cháu M cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng, bà không dưỡng.cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung bà và ông L tự thỏa thuận, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án ông Phạm Phi L có đơn từ chối tham gia tố tụng, tại Đơn từ chối tham gia tố tụng ông L trình bày:
Ông đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như giấy triệu tập của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân. Sau khi nhận được các giấy tờ nêu trên của Tòa án, bản thân ông biết rằng vợ tôi là Huỳnh Thị N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông, ông đồng ý ly hôn với N vì cả hai không còn sống chung với nhau đã hơn 04 năm nay, ông đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được trực tiếp nuôi cháu Phạm Duy M, ông không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung ông và bà N tự phân chia, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng.
- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị N. Giao cháu Phạm Duy M cho ông Phạm Phi L trực tiếp nuôi dưỡng, bà N không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí, đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Bà Huỳnh Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Phạm Phi L; giao cháu Phạm Duy M cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng, bà N không cấp dưỡng nuôi con; không yêu cầu Tòa án giải quyết nợ chung, tài sản chung khi ly hôn nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn là ông Phạm Phi L cư trú tại thôn Đông Thuận, xã Tân Hà, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án ông Phạm Phi L có đơn từ chối tham gia tố tụng; ông L và bà N có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử theo quy định.
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Huỳnh Thị N và ông Huỳnh Phi L tự nguyện tìm hiểu, sống chung và đăng ký kết hôn vào ngày 16/12/2015 tại UBND xã Tân Hà, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận; như vậy, hôn nhân giữa bà N và ông L là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Theo lời trình bày của bà N thì sau khi kết hôn vợ chồng hạnh phúc được một năm, sau đó thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và hay gây gỗ với nhau. Ngày 01/01/2017, cảm thấy không thể sống chung với ông L được nên bà về nhà cha mẹ đẻ mình sống và ly thân với ông L từ đó cho đến nay. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, không thể sống chung với nhau được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Phạm Phi L.
Tại đơn từ chối tham gia tố tụng, ông Phạm Phi L thừa nhận là không còn sống chung với bà Huỳnh Thị N đã hơn 04 năm và ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà N nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N.
Về nuôi con:
Bà Huỳnh Thị N và ông Phạm Phi L có 01 con chung là Phạm Duy M, sinh ngày 10/9/2017. Bà N yêu cầu Tòa án giao cháu M cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, ông L có nguyện vọng nuôi con và cháu M hiện đang sống với ông L nên Hội đồng xét xử giao cháu M cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
4] Về cấp dưỡng nuôi con:
Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung, nợ chung:
Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Bà Huỳnh Thị N phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị N
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Huỳnh Thị N và ông Phạm Phi L.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Duy M, sinh ngày 10/9/2017 cho ông Phạm Phi L trực tiếp nuôi dưỡng, bà Huỳnh Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Huỳnh Thị N có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì quyền lợi của con, các bên có quyền làm đơn đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí:
Bà Huỳnh Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân theo Biên lai số 0007099 ngày 15 tháng 02 năm 2022.
Án xử công khai, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Hàm Tân; - Chi cục THADS huyện Hàm Tân; - UBND xã nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hữu Tình |