vanban.org

Bản án 08/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84, 85 và Điều 118 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c…

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H’E. 1. Về quan hệ hôn nhân: bà H’E được ly hôn với ông Đậu Văn M. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa bà H'E và ông Đậu Văn M"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84, 85 và Điều 118 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c…
  • Căn cứ chính? Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK GLONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 08/2022/HNGĐ-ST
Ngày 19-7-2022
V/v tranh chấp về ly hôn
và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: bà Lê Thị Hồng Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lý Văn Hòe và ông Phan Hữu Tỷ

- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Duy Cường – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên toà: ông Trương Văn Nhẫn - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 22/2022/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 02 năm 2022 về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXX-ST ngày 26 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà H’E, sinh năm 1993; địa chỉ: thôn 6, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – có mặt

2. Bị đơn: ông Đậu Văn M, sinh năm 1974; địa chỉ: thôn 6, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà H’E trình bày: bà và ông Đậu Văn M chung sống và có đăng ký kết hôn từ năm 2013 tại UBND xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, việc chung sống và kết hôn là tự nguyện không ai xúi dục ép buộc. Thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2016 thì vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, kinh tế gia đình không ổn định, ông M không chăm sóc tốt cho các con; bà và ông M đã sống ly thân từ năm 2016. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông M.

Về con chung: có 02 con chung là Đậu K Gia B, sinh ngày 14/6/2014 và Đậu K Quốc L, sinh ngày 24/02/2016 bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng; yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/01 cháu/tháng. Tại phiên tòa bà H’E không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: bà H’E cam đoan không có nợ chung, về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Đậu Văn M trình bày: ông M cơ bản thống nhất với trình bày của bà H’E về quá trình chung sống và mâu thuẫn của vợ chồng nhưng ông không đồng ý ly hôn, mặc dù vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 nhưng ông vẫn còn tình cảm, các con cần có sự chăm sóc của cả cha và mẹ mới đảm bảo quyền lợi tốt nhất. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì ông yêu cầu được nuôi cháu Đậu K Gia B, sinh ngày 14/6/2014. Giao cháu Đậu K Quốc L, sinh ngày 24/02/2016 cho bà H’E chăm sóc nuôi dưỡng, không đồng ý cấp dưỡng theo yêu cầu của bà H’E.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tuy nhiên, tại phiên tòa ông M đồng ý ly hôn với bà H’E vì tình cảm không còn; về con chung ông đề nghị được nuôi hai con chung; không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và đương sự trong quá trình giải quyết vụ án đều chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H’E được ly hôn với ông Đậu Văn M; cần giao cháu Đậu K Quốc L, sinh ngày 24/02/2016 cho bà H’E, giao cháu Đậu K Gia B, sinh ngày 14/6/2014 cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản sản chung đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp: bà

H’E và ông M chung sống với nhau có đăng ký kết hôn, bà H’E yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với ông M nên quan hệ pháp luật là tranh chấp về "ly hôn và nuôi con "; bị đơn ông M có hộ khẩu thường trú tại xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu của nguyên đơn bà H’E:

Về quan hệ hôn nhân: bà H’E và ông M chung sống với nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk vào năm 2013. Tại các bản khai ông M và bà H’E đều thừa nhận thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, đã ly thân từ năm 2017 đến nay. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà H’E và ông M đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H’E đối với ông M.

Về con chung: Xét thu nhập thực tế, điều kiện chăm sóc các con và theo nguyên vọng của 02 con chung cần giao cháu Đậu K Quốc L, sinh ngày 24/02/2016 cho bà H’E, giao cháu Đậu K Gia B, sinh ngày 14/6/2014 cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Đương sự không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84, 85 và Điều 118 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H’E.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: bà H’E được ly hôn với ông Đậu Văn M.

1.2. Về con chung: giao cháu Đậu K Quốc L, sinh ngày 24/02/2016 cho bà H’E, giao cháu Đậu K Gia B, sinh ngày 14/6/2014 cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Về án phí: bà H’E phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai số 0004118, ngày 24/02/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ