vanban.org

Bản án 08/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận cho chị Cao Thị L được ly hôn anh Vi Văn Kh.

Về con chung: Công nhận sự thoả thuận của các đương sự về việc giao con chung Vi Khả D, sinh ngày 04/5/2017 cho chị Cao Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Di tròn 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Vi Văn Kh do chị Cao Thị L không yêu cầu. Anh Kh có quyền và ngh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận cho chị Cao Thị L được ly hôn anh Vi Văn Kh.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CON CUÔNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 21 - 01 – 2022 V/v Ly
hôn, tranh chấp về nuôi con khi
ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Hồng Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà La Thị Huyền;

2. Ông Hà Minh Tuấn;

Thư ký phiên tòa: Ông Quang Lương Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Con Cuông – tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hoan -Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 108/2021/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2021 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2022/QĐXX-ST ngày 06 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Cao Thị L – Sinh năm 1992.

Địa chỉ: Bản N, xã Y Kh, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Vi Văn Kh – Sinh năm 1988.

Địa chỉ: Bản N, xã Y Kh, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cháp hành án tại trại giam số 5 – Cục C10 – Bộ Công An có địa chỉ tại xã Y T, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) ngày 20/11/2021, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Cao Thị L trình bày: giữa chị và bị đơn anh Vi Văn Kh kết hôn với nhau vào ngày 20/11/2017 tại UBND xã Y Kh, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm về điều kiện và thủ tục kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sống hạnh phúc được một năm thì phát sinh mẫu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã xúc phạm lẫn nhau. Nguyên nhân do anh Kh ngoại tình, không tu chí làm ăn, không chăm lo cho gia đình. Việc mâu thuẫn của vợ chồng chị đã được hai bên gia đình nội ngoại và chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần, nhưng sau mỗi lần hòa giải tình cảm vẫn không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng. Đến tháng 9/2019 anh Kh bị bắt và bị xử phạt 10 năm tù, hiện nay đang chấp hành án tại trại giam số 5 – Cục C10 – Bộ Công An. Vì vậy mà từ đó đến nay hai vợ chồng chị không còn sống chung với nhau nữa. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vi Văn Kh.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị có một người con chung tên là Vi Khả D, sinh ngày 04/5/2017. Hiện nay cháu đang sống với chị, nếu ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng chị thỏa thuận tự chia, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Hiện nay vợ chồng chị không vay nợ cá nhân, cơ quan tổ chức nào cũng như không cho ai vay nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Vi Văn Kh trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh thống nhất với chị L về thời gian, điều kiện, nơi đăng kí kết hôn, quá trình chung sống, tình trạng hôn nhân của vợ chồng đúng như chị L trình bày nhưng không thống nhất về nguyên nhân mâu thuẫn, theo anh Kh nguyên nhân là do quan điểm, tính cách không phù hợp, trong cuộc sống vợ chồng không biết chia sẻ với nhau. Vì vậy mà từ tháng 6/2019 cho đến nay vợ chồng anh không còn sống chung với nhau nữa. Anh thấy tình cảm vợ chồng cũng không còn nên chị L yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn anh cũng đồng ý.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh có một người con chung như chị L đã trình bày. Nếu ly hôn anh cũng có nguyện vọng là giao con cho chị L nuôi, sau này anh chấp hành án xong anh sẽ dành quyền nuôi con, về phần cấp dưỡng nuôi con chị L không yêu cầu nên anh cũng không cáp dưỡng.

- Về tài sản chung: Anh và chị Cao Thị L thỏa thuận tự chia không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Hiện nay vợ chồng anh không vay nợ cá nhân, cơ quan tổ chức nào cũng như không cho ai vay nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

- Về tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hôi đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị L uyện, buộc chị Cao Thị L và anh Vi Văn Kh chấm dứt quan hệ vợ chồng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật; Về con: giao con chung Vi Khả D, sinh ngày 04/5/2017 cho chị Cao Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Di trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Vi Văn Kh; Về tài sản: chị L và anh Kh không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét; Về án phí: buộc chị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Đây là vụ án hôn nhân gia đình về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn: bị đơn hiện cư trú tại Bản N, xã Y Kh, huyện Con Cuông nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Do bị đơn hiện đang chấp hành án tại trại giam số 5 – Cục C10 – Bộ Công An nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự đồng thời Tòa án đã ủy thác giao thông báo thụ lý vụ án và các văn bản khác của Tòa án cho anh Kh theo quy định của pháp luật mà không thể triệu tập anh Kh đến Tòa án được Tại phiên tòa nguyên đơn chị Cao Thị L uyện, bị đơn anh Vi Văn Kh có đơn xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn và bị đơn có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chưa thành niên khi ly hôn nên theo quy định, Tòa án xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp tại UBND xã Y Kh, huyện Con Cuông là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét chị Cao Thị L và anh Vi Văn Kh đăng ký kết hôn ngày 20/11/2017 tại UBND xã Y Kh, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh Kh là hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng một năm thì phát sinh mâu thuẫn, Theo chị L, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Kh ngoại tình, không tu chí làm ăn, không chăm lo cho gia đình, chị đã nhiều lần chị khuyên anh từ bỏ những thói hư tật xấu, tu chí làm ăn nhưng anh không chịu thay đổi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Anh Kh cho rằng, nguyên nhân do quan điểm, tính chá không phù hợp, trong cuộc sống vợ chồng không biết chia sẻ với nhau. Mặc dù các đương sự không thống nhất với nhau về nguyên nhân mâu thuẫn nhưng đều xác nhận không còn tình cảm, vì vậy mà từ tháng 6/2019 cho đến nay hai vợ chồng không còn sống chung với nhau nữa. Như vậy, chị L và anh Kh đã vi phạm quy định về tình nghĩa vợ chồng, không sống chung với nhau mà không có lý do chính đáng.

Xét thấy, giữa chị L và anh Kh mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014, xử cho chị Cao Thị L được ly hôn với anh Vi Văn Kh.

Về con chung: Chị L và anh Kh có một người con chung là Vi Khả D, sinh ngày 04/5/2017. Quá trình giải quyết vụ kiện chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi con. Anh Kh đồng ý giao con cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh. Do các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giao cháu Vi Khả D cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Thỏa thuận này của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm đạo đức xã hội, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

Về tài sản chung: Do các đương sự đã tự thỏa thuận với nhau và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Cao Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 và Điều 227, 228, 238 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận cho chị Cao Thị L được ly hôn anh Vi Văn Kh.

- Về con chung: Công nhận sự thoả thuận của các đương sự về việc giao con chung Vi Khả D, sinh ngày 04/5/2017 cho chị Cao Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Di tròn 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Vi Văn Kh do chị Cao Thị L không yêu cầu.

Anh Kh có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Nếu anh Kh lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

Chị L cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Kh trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị Cao Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000594 ngày 03 tháng 12 năm 2021.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Hồng Lợi

Cỡ chữ