vanban.org

Bản án 08/2022/HNGĐ-PT — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 22/04/2022 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/04/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị P về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Anh Đoàn Văn C có trách nhiệm giao cháu Đoàn Phúc L1, sinh ngày 02/8/2018 cho chị P. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. 1. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Phạm Thị P phải chịu 300.000 đồng. Chị P đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại lai số 0001320 ngày 23/7/202… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị P - Đoàn Văn C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị P về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2022/HNGĐ-PT
Ngày: 22 - 4 - 2022
V/v “Tranh chấp về thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền

Các Thẩm phán: Ông Dương Hùng Quang

Ông Ninh Quang Thế

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Khuyên là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:

Ông Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm C khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 07/2022/TLPT-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2022 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

Do bản hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 154/2021/HNGĐ-ST ngày 27/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố C bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 08/2022/QĐXX-PT ngày 09 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị P, sinh năm 1989 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Thạnh Điền, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Đoàn Văn C, sinh năm 1986 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Thạnh Điền, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Chị Phạm Thị P, là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Phạm Thị P trình bày: Chị và anh Đoàn Văn C chung sống vợ chồng với nhau được con chung là Đoàn Như L, sinh ngày 02/3/2013 và Đoàn Phúc L1, sinh ngày 02/8/2018. Tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 216/2019/QĐST – HNGĐ ngày 01/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố C thỏa thuận khi ly hôn giao cháu Đoàn Phúc L1 cho chị nuôi, anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu L1 mỗi tháng 8.000.000đ, kể từ ngày 01/8/2019 đến khi cháu L1 đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn chị và anh C thỏa thuận thay đổi người nuôi con đối với cháu L1. Tại quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 185/2020/QĐST-HNGĐ ngày 28/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố C chị đồng ý giao cháu L1 cho anh C nuôi. Sau khi giao cháu L1 cho anh C nuôi chị thấy cháu L1 không được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, do anh C làm nghề tài xế C ty thủy sản Minh Phú thời gian rất bận rộn thường xuyên đi vắng nhà, những lúc đó chị phải đến chăm sóc cho cháu L1. Nay chị yêu cầu anh C giao cháu L1 lại cho chị nuôi dưỡng, ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Đối với bị đơn anh Đoàn Văn C Tòa án cấp sơ thẩm có tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 154/2021/HNGĐ-ST ngày 27/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố C đã quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị P về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với cháu Đoàn Phúc L1, sinh ngày 02/8/2018. Tiếp tục giao cháu Đoàn phúc L1, sinh ngày 02/8/2018 cho anh Đoàn Văn C nuôi. Chị Phạm Thị P được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

Ngày 10/01/2022 nguyên đơn chị Phạm Thị P kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn, chị P trình bày: Tại quyết định C nhận thuận tình ly hôn số 216 ngày 01/8/2019, về con chung anh C nuôi Đoàn Như L, chị nuôi Đoàn Phúc L1. Tuy là có quyết định ly hôn nhưng anh chị vẫn chung sống với nhau đến khoảng tháng 12/2019, lúc này anh C đưa cháu L về Bắc gửi ông bà nội, vì nhớ con nên chị kêu anh C đưa L vào Cà Mau cho chị thăm nom con, anh C đồng ý với điều kiện về mặt giấy tờ thể hiện là chị phải giao cháu L1 cho anh C nuôi, chị đồng ý, Tòa án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con ngày 28/8/2020 và cũng từ tháng 8/2020 chị và anh C tiếp tục sống chung lại với nhau cho đến tháng 6/2021, thời gian sống chung anh C đánh đập, đuổi chị đi nhưng không cho mang con theo. Anh C làm tài xế cho C ty nên không có thời gian chăm sóc con trong khi cháu L1 hơn 03 tuổi, bị bệnh nằm một chỗ cần người chăm sóc, anh C gửi con cho hàng xóm khi chị đến thăm thì bị ngăn cản, hành hung chị, hiện tại anh C gửi con về quê cho ông bà nội trông coi. Hiện tại anh C chung sống với người phụ nữ, sống cùng nhà có một đứa trẻ và cháu L con chung của anh C chị P.

Chị P giữ nguyên nội dung kháng cáo, yêu cầu sửa án sơ thẩm và giao cháu L1 cho chị nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng.

Bị đơn anh C trình bày: Anh nuôi hai đứa con nên về vật chất tuy thiếu thốn nhưng anh cố gắng lo lắng cho các con; anh C không đồng ý giao con cho chị P vì chị không có thiện chí nuôi con, anh không yên tâm khi giao con cho chị; đối với cháu L1 anh đưa cháu về quê ở tỉnh Ninh Bình để cháu đi du lịch chứ không có gửi cho ông bà nội nuôi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 154/2021/HNGĐ-ST ngày 27/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố C đã quyết định: Không chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị P về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với cháu Đoàn Phúc L1, sinh ngày 02/8/2018; Tiếp tục giao cháu L1 cho anh Đoàn Văn C nuôi. Chị P kháng cáo yêu cầu được nuôi cháu L1.

Xét kháng cáo

Qua xem xét toàn diện chứng cứ thể hiện chị Phạm Thị P, anh Đoàn Văn C có hai người con chung tên Đoàn Như L, sinh ngày 02/3/2013 và Đoàn Phúc L1, sinh ngày 02/8/2018. Tại thời điểm ly hôn ngày 01/8/2019 mỗi đương sự nuôi một đứa con, đến ngày 28/8/2020 thỏa thuận chị P giao cho anh C nuôi cháu L1. Tại cấp phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, chị P cung cấp chứng cứ và chị trình bày lý do giao cháu L1 cho anh C nuôi vì anh C ra điều kiện muốn gặp cháu L thì trên giấy tờ phải thể hiện anh C nuôi L1; trên thực tế hai đương sự có quyết định ly hôn nhưng vẫn sống chung, cùng chăm sóc cháu L1 cho đến tháng 7/2021 anh chị không còn chung sống với nhau, nhưng anh C không cho chị P mang con theo. Với chứng cứ chị P cung cấp và tại phiên tòa phúc thẩm anh C xác nhận, anh C lài tài xế của C ty Minh Phú, anh phải nuôi hai con, cháu L1 bị bệnh phải tốn nhiều chi phí, nên về vật chất gặp khó khăn; thường xuyên vắng nhà và anh C nhờ bà nội trông, đã qua anh C có gửi con cho hàng xóm khi chị P đến thăm con thì xảy ra xô xác với hàng xóm; anh C không tạo điều kiện để chị P thăm con và vấn đề cần quan tâm hiện nay cháu L1 mới hơn 36 tháng tuổi, cháu bị bệnh Rối loạn chuyển hóa Ure, bại não liệt tứ chi, với tình trạng bệnh của cháu L1 cần phải có người thân trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng không ai khác là cha hoặc mẹ, nhưng tình hình thực tế của anh C không trực tiếp chăm nom con được. Do vậy, cần giao cháu L1 cho chị P nuôi là phù hợp. Anh C có nghĩa vụ giao cháu L1 cho chị P. Chị P không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ nhận định trên, chấp nhận kháng cáo của chị P, giao cháu L1 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng; sửa bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 154/2021/HNGĐ-ST ngày 27/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố C

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm; tuy nhiên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa án sơ thẩm với nhận định nêu trên.

Án phí phúc thẩm chị P không phải chịu, đã dự nộp được nhận lại toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; chấp nhận kháng cáo của chị Phạm Thị P, giao cháu Đoàn Phúc L1 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng; sửa bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 154/2021/HNGĐ-ST ngày 27/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Căn cứ các Điều 81, 82, 83, 84 luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị P về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Giao cháu Đoàn Phúc L1, sinh ngày 02/8/2018 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng không đặt ra.

Anh Đoàn Văn C có trách nhiệm giao cháu Đoàn Phúc L1, sinh ngày 02/8/2018 cho chị P. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2. Về án phí

2.1. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Phạm Thị P phải chịu 300.000 đồng. Chị P đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại lai số 0001320 ngày 23/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C, sung quỹ nhà nước.

2.2. Án phí phúc thẩm, chị P không phải chịu, chị P nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại biên lai số 0000826 ngày 20/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C được nhận lại toàn bộ.

3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ