- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim Ng đối với bà Mùi Thị L về yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 170 Bộ luật Dân sự; Điều 584 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2022/DS-ST Ngày 16 tháng 02 năm 2022 Về việc“Yêu cầu bồi thường thiệt hại”. |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY
NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà PHẠM NGỌC GIÀU
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông TRẦN VĂN THẠCH
2/ Bà DƢƠNG THỊ TƢ
- Thư ký phiên tòa: Ông HOÀNG KIM ANH - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà NGUYỄN THỊ BÍCH DU - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 221/2020/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 02/2022/QĐST-DS ngày 04 tháng 01 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2022/QĐST-DS ngày 19 tháng 01 năm 2022 giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Bà NGUYỄN THỊ KIM NG, sinh năm 1978 - (có mặt).
Nơi ĐKHKTT: Số 54/4, khu phố 1, phƣờng Long H, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
Nơi tạm trú: Số 89/2 ấp Trƣờng A, xã Trƣờng T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Bà MÙI THỊ L, sinh năm 1962 - (có mặt).
Địa chỉ: Số 533, ấp Trƣờng H, xã Trƣờng T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 31 tháng 7 năm 2020, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Ng trình bày:
Bà Ng có phần đất diện tích 6.370 m2 tọa lạc tại ấp Trƣờng H, xã Trƣờng Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Nguồn gốc đất là do cha bà là ông Nguyễn Văn N cho bà và bà Ng đã đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số GCN: CS13055 ngày 14/7/2020 do Nguyễn Thị Kim Ng đứng tên. Hiện tại bà Ng đang quản lý sử dụng phần đất trên, nhƣng vào ngày 08/4/2020 bà Mùi Thị L đến phần đất của bà Ng chặt 90 cây tràm vàng (08 năm tuổi) và đập phá 07 cây trụ rào xi măng trên đất của bà Ng. Việc chặt cây tràm và đập phá tài sản của bà L là không đúng nên bà Ng có làm đơn yêu cầu UBND xã Trƣờng Tây giải quyết và tại xã bà L thừa nhận là có chặt cây tràm và đập phá trụ rào trên đất của bà Ng nhƣng không đồng ý bồi thƣờng, do đó bà Ng mới làm đơn khởi kiện bà L ra Tòa án và yêu cầu bà L phải bồi thƣờng thiệt hại tổng cộng số tiền là 17.500.000 (mƣời bảy triệu năm trăm nghìn) đồng.
Nay ra Tòa bà Ng chỉ yêu cầu bà L phải bồi thƣờng 90 cây tràm vàng 08 năm tuổi theo giá mà bà L đã bán là 9.000.000 đồng và 07 cây trụ rào xi măng theo giá Hội đồng định giá đã định là 336.000 đồng, tổng cộng là 9.336.000 (chín triệu ba trăm ba mƣơi sáu nghìn) đồng. Ngoài ra bà Ng không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm.
*Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Mùi Thị L trình bày:
Bà L thừa nhận vào tháng 4 năm 2020 (dƣơng lịch), bà L có chặt toàn bộ số cây tràm và nhổ 07 cây trụ rào xi măng trên đất của bà đã mua của bà Nguyễn Thị S. Số cây tràm bà chặt trên đất bà đã bán đƣợc 9.000.000 (chín triệu đồng) còn số cây trụ rào bà L nhỗ hiện tại vẫn còn để ở trên đất.
Nay ra Tòa bà L không đồng ý bồi thƣờng thiệt hại theo yêu cầu của bà Ng, vì bà chặt cây tràm và nhổ trụ rào xi măng trên đất của bà mua của bà Nguyễn Thị S, nên bà không đồng ý bồi thƣờng cho bà Ng.
Ý kiến của các đương sự tại phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Kim Ng yêu cầu bà Mùi Thị L phải bồi thƣờng 90 cây tràm vàng 9.000.000 đồng và 07 cây trụ rào 336.000 đồng, tổng cộng là 9.336.000 (chín triệu ba trăm ba mƣơi sáu ngàn) đồng.
Bà L không đồng ý bồi thƣờng thiệt hại theo yêu cầu của bà Ng. Vì bà chặt cây tràm vàng và nhổ trụ rào xi măng trên đất của bà mua của bà Nguyễn Thị S, không phải đất của bà Ng nên bà không đồng ý bồi thƣờng cho bà Ng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và của ngƣời tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về thời hạn chuẩn bị xét xử có vi phạm nên cần kiến nghị Tòa án khắc phục.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Căn cứ Điều 170, 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Ng đối với bị đơn bà Mùi Thị L.
Buộc bà Mùi Thị L phải bồi thƣờng cho bà Nguyễn Thị Kim Ng 90 cây tràm vàng giá 9.000.000 đồng và 07 cây trụ rào xi măng giá 336.000 đồng, tổng cộng là 9.336.000 đồng (chín triệu ba trăm ba mƣơi sáu nghìn) đồng. Tính án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Bà Mùi Thị L là bị đơn có nơi cƣ trú tại ấp Trƣờng H, xã Trƣờng Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh nên Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Bà Nguyễn Thị Kim Ng yêu cầu bà Mùi Thị L phải bồi thƣờng 90 cây tràm vàng mà bà L đã chặt và 07 cây trụ rào xi măng do bà L đập gãy trên đất của bà Ng nhƣng bà L không đồng ý bồi thƣờng theo yêu cầu của bà Ng nên phát sinh tranh chấp. Đây là tranh chấp về yêu cầu bồi thiệt hại về tài sản theo quy định tại Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015.
Xét thấy: Phần đất trồng cây tràm mà các bên đang tranh chấp có nguồn gốc là của ông Nguyễn Văn N, ông N sử dụng đất từ năm 1994 sau đó ông N cho lại con gái là bà Nguyễn Thị Kim Ng vào năm 2020. Gồm 02 thửa: Thửa đất số 22 có diện tích 4.900m2, hiện tại bà Ng đang trồng lúa và Thửa đất số 281 có diện 1470m2 trên đất có một ao nuôi cá và trồng cây tràm vàng, thuộc tờ bản đồ số 35, tọa lạc ấp Trƣờng Huệ, xã Trƣờng Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số GCN:CS13055 ngày 04/7/2020 do bà Nguyễn Thị Kim Ng đứng tên.
Theo biên bản thẩm định giá tại chỗ ngày 24/6/2021, xác định số cây tràm vàng bị chặt và 07 trụ rào xi măng bị gãy đều nằm trên phần đất diện tích 1470m2, thửa đất số 281, tờ bản đồ số 35 do Sở Tài nguyên và môi trƣờng tỉnh Tây Ninh cấp cho bà Nguyễn Thị Kim Ng vào ngày 14/7/2020. Việc bà L tự ý chặt cây tràm và nhỗ trụ rào xi măng trên đất là xâm phạm tài sản của bà Ng, gây thiệt hại cho bà Ng nên phải chịu trách nhiệm bồi thƣờng cho bà Ng. Bà L cũng thừa nhận là có chặt số cây tràm và nhổ trụ rào xi măng trên đất, do đó bà Ng yêu cầu bà L bồi thƣờng là có căn cứ chấp nhận.
Bà Mùi Thị L cho rằng số cây tràm vàng mà bà đã chặt và các trụ rào xi măng bà đã nhổ trên phần đất là do bà nhận chuyển nhƣợng từ bà Nguyễn Thị S (bà S đã mất) nhƣng bà không cung cấp đƣợc chứng cứ chứng minh phần đất này là của bà, việc mua bán đất giữa bà và bà S chỉ làm giấy tay, bà S và bà L chƣa đƣợc Nhà nƣớc công nhận quyền sử dụng đất, do đó lời trình bày của bà L là không có cơ sở chấp nhận.
Tại phiên tòa bà L có yêu cầu xác minh lại về nguồn gốc đất, xét thấy yêu cầu của bà không liên quan đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Nếu bà L có tranh chấp về hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất với gia đình Nguyễn Thị S thì sẽ đƣợc giải quyết ở một vụ kiện khác.
Bà Ngọc yêu cầu bà L phải bồi thƣờng số cây tràm vàng đã chặt là 90 cây. Do số cây tràm không còn nên Hội đồng định giá không tiến hành định giá đƣợc.
Tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Ng chỉ yêu cầu bị đơn bà Mùi Thị L bồi thƣờng thiệt hại 90 cây tràm vàng mà bà L đã chặt để bán giá là 9.000.000 đồng và 07 trụ rào xi măng theo giá Hội đồng định giá tài sản đã định là 336.000 đồng, tổng cộng là 9.336.000 đồng là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về chi phí, đo đạc định giá: Không có
Về án phí: Bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 170, 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim Ng đối với bà Mùi Thị L về yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại.
Buộc bà Mùi Thị L có nghĩa vụ bồi thƣờng thiệt hại cho bà Nguyễn Thị Kim Ng số tiền 90 cây tràm đã chặt 9.000.000 đồng và 07 trụ rào xi măng 336.000 đồng, tổng cộng là 9.336.000 (chín triệu ba trăm ba mƣơi sáu nghìn) đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu trả số tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Về án phí sơ thẩm dân sự:
Bà Mùi Thị L phải chịu 466.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Kim Ng số tiền là 437.500 đồng theo biên lai thu số 0009139 ngày 02/10/2020 của Chi cục Thi hành án thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án dân sự sơ thẩm xét xử công khai báo cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Ng và bị đơn bà Mùi Thị L biết đƣợc quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND tỉnh TN; - VKSND thị xã Hòa Thành; - Chi cục THA DS thị xã Hòa Thành; - Các đƣơng sự; - Lƣu hồ sơ vụ án; - Lƣu trữ VP-(G). | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Giàu |