- Tranh chấp gì? án dân sự — "hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần mía đường Trà Vinh.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN TIỂU CẦN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2022/DSST Ngày: 15-12-2022 V/v Tranh chấp hợp đồng bao tiêu sản phẩm và mua bán |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Chấm
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Bữu Hòa;
Bà Lê Thị Cúc Hoa.
Thư ký phiên tòa: Bà Sơn Thị Hoa Lan- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.
Ngày 15 tháng 12 năm 2022, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 43/2022/TLST-DS, ngày 13 tháng 10 năm 2022; về việc “Tranh chấp hợp đồng bao tiêu sản phẩm và mua bán”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QĐXXST-DS, ngày 28-11-2022, giữa:
Ng đơn: Công ty Cổ phần mía đường Trà Vinh; Địa chỉ: Ấp Chợ, xã Lưu Nghiệp Anh, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện cho Công ty: Ông Trần Ngọc H –Chức vụ: Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần mía đường Trà Vvà ông Nguyễn Văn Ng-Chức vụ: Trưởng phòng Ng liệu Công ty Cổ phần mía đường Trà V(Có đơn xin vắng mặt).
Bị đơn: Ông Thạch S, sinh năm 1972; Địa chỉ: Ấp Sóc D, xã Tân H, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (Có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 29-6-2022, trong quá trình giải quyết đại diện Ng đơn trình bày:
Ngày 30/5/2017, Công ty Cổ phần mía đường Trà V(gọi tắt là Công ty) có ký hợp đồng số: 310/HĐ-ĐTV-NL với ông Thạch S về việc Công ty đầu tư vốn, trồng, chăm sóc và mua bán mía Ng liệu vụ sản suất 2017-2018. Tổng số tiền Công ty đầu tư cho ông Thạch S bằng 27.200.000 đồng, trong tổng số tiền đầu tư vào ngày 14/6/2017, ông Sơ có thanh toán cho Công ty bằng 5.000.000 đồng và Công ty có hỗ trợ chi phí cho ông Thạch S số tiền bằng 22.200.000 đồng để trồng và chăm sóc mía. Trong hợp đồng có thỏa thuận sau khi thu hoạch mía ông Sơ trực tiếp bán lại cho Công ty hoặc ông Sơ có quyền bán cho người khác rồi thanh toán tiền vốn đầu tư lại cho Công ty, nhưng ông Sơ không thực hiện đã vi phạm hợp đồng đã ký với Công ty. Sau vụ sản xuất 2017-2018 đến nay ông Thạch S không còn trồng mía, nhưng tiền vốn đầu tư còn nợ của Công ty ông Sơ chưa thanh toán hết. Công ty đã nhiều lần nhắc nhở yêu cầu ông Thạch S thanh toán tiền vốn đầu tư lại cho Công ty, nhưng ông Sơ không thực hiện.
Nay đại diện Công ty Cổ phần mía đường Trà Vyêu cầu ông Thạch S trả cho Công ty bằng 22.200.000 đồng và yêu cầu tính lãi với mức 0,83% tháng, thời gian tính lãi từ ngày 14/6/2017 cho đến khi giải quyết xong vụ án.
Ông Trần Ngọc H và anh Nguyễn Văn Ng có đơn xin vắng mặt.
Tại bản tự khai trong quá trình giải quyết ông Thạch S trình bày:
Ông có ký hợp đồng số: 310/HĐ-ĐTV-NL, ngày 30/5/2017 với Công ty Cổ phần mía đường Trà Vvề việc Công ty đầu tư vốn, trồng, chăm sóc và mua bán mía Ng liệu vụ sản suất 2017-2018. Tổng số tiền Công ty đầu tư cho ông bằng 27.200.000 đồng, trong tổng số tiền 27.200.000 đồng, đến ngày 14/6/2017, Công ty hỗ trợ tiền mặt cho ông bằng 22.200.000 đồng, ông có thanh toán lại cho Công ty bằng 5.000.000 đồng, cho nên ông còn nợ lại Công ty bằng 22.200.000 đồng, do thất mùa mía không tốt ông không có bán lại cho Công ty mà bán cho người khác nên không có tiền thanh toán cho Công ty đã đầu tư. Đối với số tiền vốn còn nợ ông xin trả cho Công ty mỗi vụ lúa bằng 3.000.000 đồng cho đến khi hết. Lúc ký hợp đồng ông cũng có thỏa thuận mức lãi suất với Công ty, do ông làm ăn thua lỗ, tình hình dịch bệnh kéo dài ông không có đi làm nên không có tiền xin Công ty không trả tiền lãi.
Ông Thạch S có đơn xin vắng mặt.
Trong quá trình giải quyết vụ án Ng đơn cung cấp gồm: 01 hợp đồng ứng vốn trồng, chăm sóc và mua bán mía Ng liệu vụ sản xuất 2017-2018 ngày 30/5/2017; 01 Giấy ủy quyền ngày 29/6/2022; 01 bảng tính lãi ngày 31/5/2022; 01 Bảng kê hồ sơ vay vốn; 01 phiếu chi ngày 14/6/2017; 01 đơn đề nghị ngày 01/6/2017; 01 biên bản kiểm tra và nghiệm thu chất lượng mía giống đầu tư vụ 2017-2018; 01 báo cáo nhu cầu nhận đầu tư mía giống vụ 2017-2018, ngày 30/5/2017; 01 phiếu thẩm định khách hàng ngày 30/5/2017; 01 biên bản kiểm tra diện tích trồng mía ngày 30/5/2017; 01 biên bản xác định diện tích đất ngày 30/5/2017; 01 biên bản đối chiếu nợ đầu tư mía Ng liệu ngày 22/9/2021; Bị đơn không có cung cấp chứng cứ:
Những vấn đề các bên đương sự thống nhất:
Ông Thạch S thừa nhận còn nợ Công ty Cổ phần mía đường Trà Vtiền vốn bằng 22.200.000 đồng.
Những vấn đề các bên đương sự không thống nhất:
Đại diện Công ty Cổ phần mía đường Trà Vyêu cầu ông Thạch S trả tiền vốn còn nợ cho Công ty bằng 22.200.000 đồng và yêu cầu tính lãi với mức lãi suất 0,83%tháng thời gian tính lãi từ ngày 14/6/2017 cho đến khi giải quyết xong vụ án.
Ông Thạch S xin trả tiền vốn mỗi vụ lúa bằng 3.000.000 đồng, còn tiền lãi suất ông Sơ xin Công ty không trả.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Ông Thạch S có hộ khẩu thường trú tại huyện Tiểu Cần, theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần.
Công ty Cổ phần mía đường Trà Vyêu cầu ông Thạch S trả tiền đầu tư vốn, trồng, chăm sóc và mua bán mía Ng liệu vụ sản xuất 2017-2018 nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng bao tiêu sản phẩm và mua bán” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đại diện Ng đơn, bị đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
Trong quá trình giải quyết các đương sự xác định giữa Công ty Cổ phần mía đường Trà Vvà ông Thạch S có ký hợp đồng số: 310/HĐ-ĐTV-NL, ngày 30/5/2017 về việc Công ty đầu tư vốn trồng, chăm sóc và mua bán mía Ng liệu vụ sản xuất 2017-2018 và ông Thạch S còn nợ lại Công ty tiền vốn bằng 22.200.000 đồng, đây là tình tiết các đương sự không phải chứng minh quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đại diện Công ty yêu cầu ông Thạch S trả tiền vốn đầu tư bằng 22.200.000 đồng, ông Sơ yêu cầu được trả cho Công ty mỗi vụ lúa bằng 3.000.000 đồng cho đến khi trả xong khoản nợ 22.200.000 đồng, việc thỏa thuận này của ông Sơ không được Công ty đồng ý và không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, ông Sơ với Công ty có quyền thỏa thuận ở giai đoạn thi hành án.
Xét yêu cầu tính lãi và mức lãi suất: Trong quá trình giải quyết đại diện Công ty yêu cầu ông Thạch S trả tiền lãi suất với mức 0,83% tháng, thời gian tính lãi từ ngày 14/6/2017 cho đến ngày giải quyết xong vụ án. Ông Thạch S thừa nhận lúc ký hợp đồng ông có thỏa thuận lãi suất với Công ty, do làm ăn thua lỗ, tình hình dịch bệnh kéo dài ông không có đi làm nên không có tiền xin Công ty không trả tiền lãi.
Xét thấy, theo thỏa thuận tại mục 5.5 Điều 5 của hợp đồng số: 310/HĐ-ĐTV-NL, ngày 30/5/2017 đã ký “Bên B (Ông Sơ) cam kết bán toàn bộ sản lượng mía Ng liệu đã nêu ở khoản 1.1 Điều 1 của hợp đồng này cho bên A (Công ty). Nếu vi phạm hợp đồng thì bên B có nghĩa vụ hoàn trả ngay cho bên A toàn bộ giá trị các khoản đầu tư, hỗ trợ đã nhận của bên A và lãi vay bằng 150% lãi suất trong hạn, kể từ khi nhận các khoản đầu tư hoặc hỗ trợ đến khi trả hết nợ”. Ngày 14/6/2017 Công ty có hỗ trợ cho ông Thạch S số tiền vốn gốc bằng 22.200.000 đồng để trồng và chăm sóc mía. Sau khi thu hoạch ông Thạch S không bán mía lại cho Công ty mà bán cho người khác không thanh toán tiền với đầu tư lại cho Công ty là đã vi phạm hợp đồng với Công ty nên ông Sơ phải có nghĩa vụ trả lãi suất cho Công ty, đại diện Công ty yêu cầu tính lãi với 0,83%tháng từ ngày 14/6/2017 là phù hợp tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử chấp nhận và tiền lãi được tính như sau:
Ngày 14/6/2017 đến ngày 15/12/2022 là 66 tháng 01 ngày x 22.200.000 đồng x 0,83%/tháng bằng 12.167.302 đồng.
Từ những nhận định nêu trên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần mía đường Trà Vinh.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn Thạch S phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Ng đơn Công ty Cổ phần mía đường Trà Vkhông phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26 khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, 91, 92, 147, 228, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 468 của Bộ Luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần mía đường Trà Vinh.
2. Buộc ông Thạch S trả cho Công ty Cổ phần mía đường Trà Vtổng cộng bằng 34.367.302 đồng (Trong đó tiền vốn bằng 22.200.000 đồng, tiền lãi bằng 12.167.302 đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
3. Về án phí: Buộc bị đơn ông Thạch S phải chịu 1.718.365 đồng án phí dân sự.
Công ty Cổ phần mía đường Trà Vkhông phải chịu án phí. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp 903.287 đồng theo biên lai thu tiền số 0011495 ngày 12-10-2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần cho Công ty Cổ phần mía đường Trà Vinh.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Tiểu Cần; - Chi cục THADS huyện Tiểu Cần; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Mỹ Chấm |