vanban.org

Bản án 08/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/…

[2]. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễ n Thị D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG ANA
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2022/DS-ST
Ngày: 09 - 6 - 2022
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Thế Chiến.

2. Ông Vũ Kim Quy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2022, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Ana xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 137/2021/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2022/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễ n Thị D, sinh năm 1967. Có mặt.

Địa chỉ: Số X, thôn D, xã D, huyệ n K, tỉnh Đắk Lắk.

2. Bị đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1985. Vắ ng mặ t.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

3. Ngườ i là m chứ ng : Chị Nguyễ n Thị Trâm A ; đị a chỉ Số X, thôn D, xã D, huyệ n K, tỉnh Đắk Lắk. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ghi ngày 26/6/2021 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễ n Thị D trình bày:

Do có mố i quan hệ hà ng xó m vớ i nhau nên bà Nguyễ n Thị D có cho chị Phạm Thị H vay tiề n nhiề u lầ n, cụ thể:

Lầ n 1: Ngày 22/12/2017, bà D có cho chị H vay 50.000.000 đồ ng, hẹn vài ngày trả.

Lầ n 2: Ngày 30/12/2017, bà D có cho chị H vay 30.000.000 đồ ng, hẹn trong 1 tuầ n trả .

Lầ n 3: Ngày 15/3/2019, bà D có cho chị H vay 70.000.000 đồ ng, hẹn 5 ngày trả.

Lầ n 4: Ngày 18/4/2019, bà D có cho chị H vay 65.000.000 đồ ng, hẹn 02 ngày trả.

Về lã i suấ t cá c khoả n vay trên thì giữ a bà vớ i chị H có thỏa thuận là 2.000 đồ ng/1triệ u/1ngày; tuy nhiên từ khi vay cho đế n nay chị H chưa trả cho bà D khoản tiề n lã i nào như đã thỏ a thuậ n.

Sau khi mượ n tiề n xong củ a bà D đến lần thứ 4 thì chị H đi khỏ i đị a phương và đến ngày 26/11/2021 chị H về trả cho bà D đượ c 100.000.000 đồ ng.

Để đả m bả o quyề n lợ i hợ p phá p cho bà , nay bà D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Phạm Thị H phải trả cho bà D số tiền gốc còn lại là 115.000.000đồng của 02 khoản vay năm 2019 và lãi tính theo quy đị nh phá p luậ t từ ngà y 18/4/2019 cho đế n nay.

* Theo bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Phạm Thị H trình bày:

Do có mố i quan hệ quen biế t nên chị H có vay tiền của bà Nguyễ n Thị D, cụ thể:

Ngày 15/3/2019 chị H có vay tiề n củ a bà D số tiề n 70.000.000 đồ ng.

Ngày 18/4/2019 chị H có vay tiền của bà D số tiề n 65.000.000 đồ ng.

Ngày 26/11/2021 chị H đã trả cho bà D 100.000.000 đồ ng.

Vậ y, nay chị H xác đị nh chỉ cò n nợ bà D số tiề n gố c 35.000.000 đồ ng.

Đối với khoản vay ngày 22/12/2017 và ngày 30/12/2017 thì chị H có vay, lãi suất các khoản vay giữa các bên có thỏa thuận là 2.000 đồ ng/1triệ u/1ngày và ngày 24/3/2018 chị H đã trả số nợ nà y cho bà D thông qua con gá i củ a bà D tên Nguyễ n Thị Trâm A vớ i số tiề n 100.000.000 đồ ng. Vậ y, nay chị H xác định chỉ còn nợ bà D 35.000.000 đồ ng tiề n gố c và tiề n lã i củ a số tiề n gố c nà y chị đã trao đổ i vớ i bà D do là m ăn khó khăn, thấ t bạ i nên chị xin bà D tiề n lã i nà y và đượ c bà D hứ a cho tấ t cả tiề n lã i.

* Ngườ i là m chứ ng chị Nguyễ n Thị Trâm A trình bày : Vào ngày 24/3/2018, chị A có nhận của chị Phạm Thị H số tiề n 100.000.000 đồ ng thay cho mẹ chị bà Nguyễ n Thị D, vì hôm đó mẹ chị không có ở nhà . Khi chị H đưa số tiề n nà y cho chị A chỉ có nói chị đưa số tiề n nà y cho mẹ chị A, còn cụ thể tiề n gì thì chị H không nó i chị A biế t. Sau khi nhậ n số tiề n 100.000.000 đồ ng từ chị H thì chị A có ký nhận cho chị H vào 01 tờ lị ch và đưa cho chị H giữ . Về số tiề n 100.000.000 đồ ng sau khi nhậ n củ a chị H chị A đã đưa lại cho mẹ chị bà D, ngoài ra chị A không biế t gì thêm. Vì không liên quan đến việc vay mượn giữa mẹ chị bà D vớ i chị H và bận công việc nên chị A đề nghị Tòa án không triệu tậ p chị A tham gia giả i quyế t vụ á n , chị xin vắng mặt trong cá c buổ i là m việ c cũng như tại phiên tò a xé t xử vụ á n.

Bị đơn vắng mặt nên không tiến hành tranh luận được.

* Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk:

- Về tố tụng:

+ Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễ n Thị D thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn chị Phạm Thị H chưa chấp hành đúng quy định pháp luật.

+ Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự, thông báo về việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 357, 463, 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễ n Thị D ; buộc chị Phạm Thị H phải trả cho bà Nguyễ n Thị D số tiền gốc 115.000.000 đồng và tiền lãi với lãi suất theo quy đị nh phá p luậ t.

+ Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết:

. Thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Điều 238, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn bà Nguyễ n Thị D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Phạm Thị H phải trả cho bà số tiền gốc 115.000.000 đồng và tiền lãi theo quy đị nh phá p luậ t, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự xác định là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

Bị đơn chị Phạm Thị H cư trú tại thôn Đ, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Krông Ana thụ lý, giải quyết vụ án dân sự là đúng thẩm quyền.

. Nội dung:

. Về số tiền các bên giao dịch: Bị đơn chị Phạm Thị H thừ a nhậ n có vay và ký giấy mượn tiền của bà D vào ngày 22/12/2017 vớ i số tiề n 50.000.000 đồ ng, ngày 30/12/2017 vớ i số tiề n 30.000.000 đồ ng, ngày 15/3/2019 vớ i số tiề n 70.000.000 đồ ng và ngà y 18/4/2019 vớ i số tiề n 65.000.000 đồ ng. Như vậ y, việ c chị Phạm Thị H vay tiề n củ a bà Nguyễ n Thị D là có thật.

. Xét ý kiến của bị đơn chị Phạm Thị H cho rằng:

Sau khi ghi và ký giấy ghi nợ ngày 22/12/2017 vớ i số tiề n vay 50.000.000 đồ ng, ngày 30/12/2017 vớ i số tiề n vay 30.000.000 đồ ng thì đế n ngà y 24/3/2018 chị H đã trả cho bà D 100.000.000 đồ ng thông quan con gá i bà D là chị Nguyễ n Thị Trâm A và ngày 15/3/2019 vớ i số tiề n vay 70.000.000 đồ ng, ngày 18/4/2019 vớ i số tiề n vay 65.000.000 đồ ng thì đến ngày 26/11/2021 chị H đã trả cho bà D số tiề n gố c là 100.000.000 đồ ng nên chị H chỉ còn nợ bà D số tiề n gố c còn lại là 35.000.000 đồ ng;

Tuy nhiên, về tài liệu chứng cứ chứng minh ngày 24/3/2018 chị H trả cho bà D 100.000.000 đồ ng của khoản vay ngày 22/12/2017 vớ i số tiề n vay 50.000.000 đồ ng, ngày 30/12/2017 vớ i số tiề n vay 30.000.000 đồ ng và ngày 26/11/2021 chị H trả cho bà D 100.000.000 đồ ng củ a khoả n vay ngày 15/3/2019 vớ i số tiề n vay 70.000.000 đồ ng, ngày 18/4/2019 vớ i số tiề n vay 65.000.000 đồ ng thì không có. Đồng thời , nguyên đơn bà D chỉ thừa nhận chị H trả 100.000.000 đồ ng vào ngày 24/3/2018 thông quan con gá i bà chá u Nguyễ n Thị Trâm A thì đây là khoản tiền chị H trả cho bà D khoản vay ngày 16/02/2018 vớ i số tiề n vay 220.000.000 đồ ng mà ngà y 15/3/2018 chị H đã trả cho bà D 120.000.000 đồ ng; còn ngày 26/11/2021 chị H trả cho bà D 100.000.000 đồ ng cho khoả n vay ngà y 22/12/2017 và ngày 30/12/2017, tổ ng số tiề n vay 80.000.000 đồ ng, còn lại 20.000.000 đồ ng trừ và o khoả n vay ngà y 15/3/2019, ngày 18/4/2019, vớ i tổ ng số tiề n 135.000.000 đồ ng thì chị H còn nợ lại bà D số tiề n gố c là 115.000.000 đồ ng.

Vì vậy, xét thấy bị đơn chị Phạm Thị H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình, đồng thời nguyên đơn bà Nguyễ n Thị D cũng không thừa nhận nên không có căn cứ chấ p nhậ n ý kiế n củ a bị đơn chị H cho rằ ng ngày 24/3/2018 chị H trả cho bà D 100.000.000 đồ ng củ a khoản vay ngày 22/12/2017 vớ i số tiề n vay 50.000.000 đồ ng, ngày 30/12/2017 vớ i số tiề n vay 30.000.000 đồ ng và ngà y 26/11/2021 chị H trả cho bà D 100.000.000 đồ ng củ a khoả n vay ngày 15/3/2019 vớ i số tiề n vay 70.000.000 đồ ng, ngày 18/4/2019 vớ i số tiề n vay 65.000.000 đồ ng, hiệ n nay chị H chỉ còn nợ bà D 35.000.000 đồ ng.

. Về yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễ n Thị D:

. Xét yêu cầu trả tiền gốc:

Quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễ n Thị D chỉ yêu cầu chị Phạm Thị H phải trả cho bà số tiền gốc còn lại là 115.000.000đồng và để chứng minh cho yêu cầu của mình nguyên đơn bà D đã cung cấp cho Tòa án Giấy ghi nợ ngày 15/3/2019 và ngày 18/4/2019 đều có chữ viết , ký của chị Phạm Thị H là bên mượn tiền nhận nợ.

Xét giấy ghi nhận nợ ngày 15/3/2019 và ngày 18/4/2019 đều được các bên đương sự thừa nhận có chữ ký của người mượn tiền với tổ ng số tiề n 135.000.000 đồng và nguyên đơn bà D chỉ thừa nhận bị đơn chị H đã trả được 20.000.000 đồng tiền gốc; đối với số tiền mà bị đơn chị H cho rằng ngày 26/11/2021 chị H đã trả cho bà D 100.000.000 đồ ng cho khoả n vay ngà y 15/3/2019, ngày 18/4/2019 thì không có căn cứ để chấp nhận như đã phân tích ở mục [2.2] nêu trên. Như vậy, việc ký mượn tiền của bị đơn chị H là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và không trái đạo đức xã hội; các bên tham gia giao dịch có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự cho nên giao dịch mượn tiền ghi nhận nợ ngày 15/3/2019 và ngày 18/4/2019 mà bà Nguyễ n Thị D cho chị Phạm Thị H vay tiền là phù hợp với quy định của pháp luật, đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự; việc chị Phạm Thị H không trả nợ cho bà D như đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Do đó, căn cứ vào Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễ n Thị D , buộc bị đơn chị Phạm Thị H phải trả cho bà Nguyễ n Thị D số tiền 115.000.000 đồng nợ gốc là có căn cứ.

. Xét yêu cầu trả tiền lãi: Các bên đương sự đều thửa nhận lãi suất của các khoản vay này là 2.000 đồ ng/1triệ u/1ngày. Việ c bị đơn chị H cho rằ ng đã trả hế t lã i như đã thỏ a thuậ n nhưng chị H không có tà i liệ u chứ ng cứ chứ ng minh; còn nguyên đơn bà D không thừ a nhậ n chị H đã trả tiề n lã i như đã thỏ a thuậ n. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà D đề nghị Tòa án tính lãi suất theo quy đị nh phá p luậ t và bắ t đầ u tính lãi từ ngà y 18/4/2019 cho đế n ngà y xé t xử sơ thẩ m. Do đó căn cứ Điề u 357 Bộ luậ t dân sự , buộ c bị đơn chị H phải chịu lãi theo quy định ; căn cứ khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tính lãi 10%/01 năm là phù hợ p . Vậ y, số tiề n lã i tí nh từ ngà y

18/4/2019 cho đế n ngà y 26/11/2021 của số tiền gốc 135.000.000 đồ ng là 34.012.500 đồ ng, từ ngà y 27/11/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày

09/6/2022 của số tiền gốc 115.000.000 đồ ng là 6.156.277 đồ ng. Tổ ng số tiề n lã i là 40.168.777 đồ ng.

. Như vậy, từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn chị Phạm Thị H phải trả cho bà Nguyễ n Thị D tổng số tiền là: 155.168.777 đồng (Trong đó tiền nợ gốc là: 115.000.000 đồng và tiền lãi là: 40.168.777 đồng) là có căn cứ.

. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễ n Thị D được chấp nhận nên bị đơn chị Phạm Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 155.168.777 đồng x 5% = 7.758.438đồng.

Hoàn trả cho bà Nguyễ n Thị D số tiền 5.375.000đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí số: 60AA/2021/0007004 ngày 20/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2]. Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễ n Thị D.

- Buộc bị đơn chị Phạm Thị H phải trả cho bà Nguyễ n Thị D số tiền là: 155.168.777 đồng (Mộ t trăm năm mươi lăm triệ u mộ t trăm sá u tá m nghì n bả y trăm bả y bả y đồ ng). Trong đó tiền nợ gốc là: 115.000.000 đồng (Mộ t trăm mườ i lăm triệ u đồ ng) và tiền lãi là: 40.168.777 đồng (Bố n mươi triệ u mộ t trăm sá u tám nghìn bảy trăm bảy bảy đồng)

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3]. Về án phí:

Bị đơn chị Phạm Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 7.758.438 đồng.

Hoàn trả cho bà Nguyễ n Thị D số tiền 5.375.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí số: 60AA/2021/0007004 ngày 20/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tò a có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo luật định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ