vanban.org

Bản án 08/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng đặt cọc — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa bà R và bà H"
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 166 Luật Đất đai
TOA AN NHÂN DÂN
HUYÊN GO DÂU
TINH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ban an sô: 08/2022/DS-ST
Ngay: 25-02-2022
“Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯƠC CÔNG HOA XA HÔI CHỦ NGHIA VIÊT NAM

TOA AN NHÂN DÂN HUYÊN GO DÂU, TINH TÂY NINH

- Thanh phân Hôi đông xet xư sơ thâm gôm co:

Thâm phan - Chu toa phiên toa: Ba Lê Thị Vân Quỳnh.

Cac Hôi thâm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Trọn

Ông Nguyễn Tuyễn

- Thư ky phiên toa: Ông Lê Đình Văn - Thư ký Toa an nhân dân huyên Go Dâu, tỉnh Tây Ninh.

- Đai diên Viên kiêm sat nhân dân huyên Go Dâu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toa: Ba Đặng Ngô Anh Thư - Kiểm sat viên.

Ngay 25 thang 02 năm 2022, tai tru sơ Toa an nhân dân huyên Go Dâu xet xư công khai sơ thâm vu an thu lý sô 332/2020/TLST-DS ngay 18 thang 11 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyêt định đưa vu an ra xet xư sô 78/2021/QĐXXST-DS ngay 16 thang 12 năm 2021, giưa cac đương sư:

- Nguyên đơn: Ba Nguyễn Thị R, sinh năm 1958. Địa chỉ: Tổ 13, ấp A, xã P, huyên G, tỉnh TN;

Người đai diên theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh L1, sinh năm 1964. Địa chỉ: Khu phô 2, thị trấn C, huyên C, Thanh phô M (Văn ban ủy quyền ngay 26-11-2020) “Vắng mặt”.

- Bị đơn: Ba Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1961. Địa chỉ: Khu phô 3, Phường 2, Thanh phô TN, tỉnh TN. Tam trú: Tổ 13, ấp A, xã P, huyên G, tỉnh TN;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Vương Ngọc N, sinh năm 1963. Ngu cùng địa chỉ ba H

Người đai diên theo ủy quyền của ba H va ông N: Ông Ngô Trí T, sinh năm 1970. Địa chỉ: ấp BH, xã TB, huyên CT, tỉnh TN (Văn ban ủy quyền ngay 18-12-2020) “Có mặt”.

2. Ba Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1971. Địa chỉ: Tổ 10, ấp B, xã P, huyên G, tỉnh TN “Có mặt”.

NÔI DUNG VỤ AN:

Người đại diện theo uy quyền cua nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L1 trình bày: Vao ngay 07-4-2020 âm lịch, giưa ba Nguyễn Thị R va ba Nguyễn Thị Ngọc H có thỏa thuận va viêt giấy tay “Giấy tay nhận cọc (nhượng đất)”. Theo đó, ba H nhận của ba R sô tiền đặt cọc la 800.000.000 đồng, để đam bao cho viêc ba H cùng chồng la ông Vương Ngọc N chuyển nhượng cho ba R phân đất ngang 12 met x dai 55 met thuộc thưa sô 306, tờ ban đồ sô 17, tọa lac tai ấp Đ, xã P, huyên G, tỉnh TN, có giấy chứng nhận quyền sư dung đất do ba H va ông N đứng tên, được Sơ Tai nguyên va Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp ngay 30-3-2017, diên tích được cấp la 654,4 m2; Gia chuyển nhượng la 950.000.000 đồng.

Ngoai ra, sau khi thỏa thuận như trên, ba H con ký thêm cam kêt, nêu sau khi ba H nhận cọc ma ông N không đồng ý ký tên chuyển nhượng đất cho ba R thì ba H có nghĩa vu bồi thường tiền cọc gấp ba lân. Sau khi ký thỏa thuận ba R giao 800.000.000 đồng cho ba H, ba H giao ban chính giấy chứng nhận quyền sư dung dất cho ba R giư.

Cac thỏa thuận như trên có sư chứng kiên của ba Nguyễn Thị Ngọc L (la em ruột của ba H). Tuy nhiên, đên nay ba H vẫn không thưc hiên viêc chuyển nhượng, cũng không tra tiền lai cho ba R.

Do đó, ba R khơi kiên yêu câu ba H va ông N có nghĩa vu tra cho ba sô tiền cọc đã nhận la 800.000.000 đồng va phat cọc gấp đôi tiền cọc la 800.000.000 đồng x 2 = 1.600.000.000 đồng. Tổng cộng 2.400.000.000 đồng. Sau đó, ba R rút 01 phân yêu câu khơi kiên, chỉ yêu câu tra tiền cọc va phat cọc 1 lân. Tổng cộng 1.600.000.000 đồng. Ngay 22-02-2022, ba R tiêp tuc rút thêm yêu câu khơi kiên, cu thể ba R chỉ yêu câu ba H va ông N tra sô tiền cọc đã nhận va phat cọc 400.000.000 đồng. Tổng cộng 1.200.000.000 đồng.

Đôi với Giấy chứng nhận quyền sư dung phân đất có diên tích 654,4 m2, thuộc thưa sô 306, tờ ban đồ sô 17, tọa lac tai ấp Đ, xã P, huyên G, tỉnh TN, do ba H va ông N đứng tên, được Sơ Tai nguyên va Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp ngay 30-3-2017, sô CS02627, hiên ba R đang giư, ba R chấp nhận tra lai cho ba H va ông N, với điều kiên khi nao ba H va ông N tra tiền xong thì ba R mới đồng ý tra lai giấy đất.

Người đại diện theo uy quyền cua bị đơn (bà Nguyễn Thị Ngoc H) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Vương Ngoc N) là ông Ngô Trí T trình bày: Lúc đâu, ba H lúc thì thừa nhận lúc khac lai không thừa nhận viêc ba có ký tên va lăn tay vao giấy nhận cọc. Sau khi có kêt qua giam định chư ký va dấu vân tay, ba H thừa nhận đúng la chư ký va dấu vân tay của ba. Tuy nhiên, ba H cho rằng trên thưc tê cac bên không có thỏa thuận như nội dung giấy nhận cọc đã thể hiên. Do vao khoang thang 11-2019 (ba H không nhớ rõ ngay), ba H có vay của ba R sô tiền 600.000.000 đồng trong 02 lân, bao gồm 01 lân vay sô tiền 400.000.000 đồng (lân nay ba H đưa ban chính giấy chứng nhận quyền sư dung đất cho ba R giư) va 01 lân vay sô tiền 200.000.000 đồng. Khi vay, ba H ký tên va lăn tay vao 02 giấy vay tiền tương ứng với 02 lân vay, nhưng ba H không có giư giấy ma do ba R giư. Ba H vay dùm ba L vì ba H có giấy đất để thê chấp cho ba R con ba L thì không có giấy đất.

Sau đó, đên ngay 07-4-2020 âm lịch, ba R va ba H viêt giấy nhận cọc có nội dung như bên nguyên đơn trình bay la đúng. Lý do ghi sô tiền nhận cọc la 800.000.000 đồng la vì ba R tính tiền vôn của 02 lân vay la 600.000.000 đồng, cộng với 200.000.000 đồng tiền lãi. Vao ngay nay ba H kể ca ba L đều không có ai nhận của ba R khoan tiền nao ca.

Với nhưng lý do trên, ba H yêu câu tuyên hợp đồng đặt cọc vô hiêu, do hợp đồng nay la gia tao nhằm che dấu hợp đồng vay.

Ba L va ba H đồng ý cùng có nghĩa vu tra cho ba R sô tiền đã vay la 600.000.000 đồng va phân lãi theo quy định của phap luật tính từ thời điểm ba L ngưng tra lãi thang 6-2020. Không xac định nghĩa vu theo phân của từng người, ma la nghĩa vu liên đới của ba H va ba L ai có tiền thì có nghĩa vu tra nợ cho ba R cho đên khi hêt nợ.

Đôi với ông N, ông không biêt gì về cac giao dịch giưa ba R, ba H va ba L, ông N cũng không có sư dung khoan tiền ma ba H vay nên ông N không có nghĩa vu phai tra bất kỳ khoan tiền nao cho ba R.

Đôi với giấy chứng nhận quyền sư dung đất la tai san chung của ông N va ba H, nợ la nợ riêng của ba H. Vì vậy, ông N yêu câu ba R có nghĩa vu tra lai Giấy chứng nhận quyền sư dung đất lai cho ba H va ông N.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị Ngoc L trình bày: Ba thông nhất với lời trình bay của ông T. Tức không có viêc ký hợp đồng đặt cọc, chỉ có viêc ba nhờ ba H thê chấp giấy đất để vay tiền ba R dùm ba.

Ba R cho vay với mức lãi suất 9%/thang, tức mỗi thang ba phai tra lãi la 54.000.000 đồng/600.000.000 đồng tiền vôn; thời han vay hai bên không thỏa thuận. Sau khi vay, ba tra lãi được 05 thang thì ngưng cho đên nay, tiền vôn thì vẫn con nợ 600.000.000 đồng. Khi tra tiền lãi hai bên không có lam giấy tờ va cũng không có ai biêt. Nay ba chấp nhận cùng ba H có nghĩa vu tra tiền cho ba R sô tiền vôn la 600.000.000 đồng cùng phân lãi suất tính theo quy định của phap luật tính từ ngay 07-4-2020 âm lịch. Phân lãi suất ma ba đã tra ba không yêu câu giai quyêt.

Tai Kêt luận giam định sô 967/KL-KTHS, ngay 15-7-2021 của Phong Kỹ thuật hình sư Công an tỉnh Tây Ninh kêt luận: Chư ký, chư viêt va dấu vân tay trong giấy nhận cọc la của ba H.

Đại diện Viện kiêm sat nhân dân huyện Go Dâu tham gia phiên toa phat biêu:

Về tô tung: Từ khi thu lý cho đên trước thời điểm Hội đồng xet xư nghị an, Thâm phan, Hội đồng xet xư, Thư ký phiên toa va nhưng người tham gia tô tung tuân thủ đúng theo phap luật tô tung dân sư.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xet xư căn cứ vao cac điều 117, 119, 185, 328, 418, 463 của Bộ luật Dân sư; Điều 166 của Luật Đất đai; cac điều 27 va 37 của Luật Hôn nhân va gia đình: Chấp nhận yêu câu khơi kiên của ba R, buộc ba H có nghĩa vu tra cho ba R sô tiền 800.000.000 đồng tiền đặt cọc va 400.000.000 đồng tiền phat cọc. Tổng cộng 1.200.000.000 đồng. Không chấp nhận yêu câu tuyên bô vô hiêu hợp đồng đặt cọc của ba H va ông N. Không chấp nhận yêu câu của ba R về viêc buộc ông N cùng có nghĩa vu tra tiền cho ba R. Buộc ba R có nghĩa vu tra lai giấy chứng nhận quyền sư dung đất lai cho ba H va ông N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOA AN:

Sau khi nghiên cứu cac tai liêu có trong hồ sơ vu an được thâm tra tai phiên toa va căn cứ vao kêt qua tranh luận tai phiên toa. Hội đồng xet xư nhận định:

[1] Về tô tung:

[1.1] Người đai diên theo ủy quyền của nguyên đơn (ông Nguyễn Thanh L1) có đơn xin xet xư vắng mặt. Hội đồng xet xư vẫn tiên hanh xet xư vắng mặt ông L1 la phù hợp với khoan 1 Điều 228 của Bộ luật Tô tung dân sư.

[1.2] Ba R rút yêu câu khơi kiên đôi với yêu câu ba H va ông N tra sô tiền 1.200.000.000 đồng (trên tổng sô tiền yêu câu la 2.400.000.000 đồng). Do đó, Hội đồng xet xư đình chỉ yêu câu khơi kiên nay của ba R la phù hợp với cac điều 217, 218 va 219 của Bộ luật Tô tung dân sư.

[2] Về nội dung: Xet yêu câu khơi kiên của ba Nguyễn Thị R, thấy rằng:

[2.1] Ba H chính la người ký tên va lăn tay vao hợp đồng đặt cọc, nhưng lai cho rằng 02 bên không có giao dịch đặt cọc ma chỉ có giao dịch vay tiền la không có căn cứ. Bơi lẽ, ba H không có chứng cứ chứng minh (bằng cac giấy vay tiền hoặc cac chứng cứ khac). Mặt khac, khi ký tên va lăn tay vao giấy đặt cọc, ba H có ghi kèm câu “đã nhận đủ tiền nói trên”. Do đó, Hội đồng xet xư xac định cac bên thỏa thuận giao dịch đặt cọc như nội dung giấy nhận cọc ghi ngay 07-3-2020 âm lịch va ngay 07-4-2020 âm lịch la đúng. Tức ba H có nhận của ba R 800.000.000 đồng tiền đặt cọc, để đam bao viêc chuyển nhượng phân đất diên tích 654,4 m2, thuộc thưa sô 306, tờ ban đồ sô 17, tọa lac tai ấp Đ, xã P, huyên G, tỉnh TN, có giấy chứng nhận quyền sư dung đất do ba H va ông N đứng tên, được Sơ Tai nguyên va Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp ngay 30-3-2017 la có căn cứ theo quy định tai Điều 328 của Bộ luật Dân sư.

[2.2] Bên canh viêc nhận cọc, ba H con ký tên va lăn tay kèm cam kêt nêu ông N không đồng ý cùng với ba ký chuyển nhượng đất cho ba R thì ba H đồng ý đền cọc gấp 3 lân cho ba R. Tức ba H ý thức được ca ba va ông N phai cùng ký tên chuyển nhượng quyền sư dung đất cho ba R thì viêc chuyển nhượng mới hợp phap. Nên ba H tư đứng ra cam kêt thưc hiên nghĩa vu với ba R nêu viêc chuyển nhượng đất không thanh la đền cọc gấp 3 lân. Viêc thỏa thuận nay phù hợp với quy định tai cac điều 117 va 401 của Bộ luật dân sư nên Hội đồng xet xư ghi nhận.

[2.3] Tuy nhiên, sau đó ông N không đồng ý chuyển nhượng đất cho ba R. Từ đó lam anh hương đên quyền va lợi ích hợp phap của ba R vì cho đên nay ba R không nhận chuyển nhượng được đất, cũng như không nhận lai được sô tiền đã đặt cọc. Trong trường hợp, nay lỗi hoan toan thuộc về ba H. Do đó viêc ba R yêu câu ba H có nghĩa vu tra cho ba R sô tiền đã nhận cọc la 800.000.000 va bồi thường gấp ½ lân sô tiền đã nhận cọc la 400.000.000 đồng. Tổng cộng 1.200.000 đồng la phù hợp với cac điều 328 va 351 của Bộ luật Dân sư nên Hội đồng xet xư chấp nhận.

[3] Đôi với yêu câu của ba R về viêc buộc ông N cùng có nghĩa vu với ba H tra tiền la không có căn cứ. Bơi lẽ, tất ca cac thỏa thuận khi giao dịch ông N đều không biêt, ba H không sư dung sô tiền nhận từ ba R để sư dung chung cho gia đình nên Hội đồng xet xư không chấp nhận yêu câu của ba R la có căn cứ theo quy định tai cac Điều 27 va 37 của Luật Hôn nhân va gia đình.

[4] Đôi với giấy chứng nhận quyền sư dung đất ba R đang giư của ba H va ông N, ba R yêu câu sau khi ba H va ông N tra hêt cac khoan tiền cho ba thì ba mới đồng ý tra lai giấy cho ba H va ông N la không có căn cứ. Vì đây la giao dịch đặt cọc, không phai giao dịch câm cô hay thê chấp. Mặt khac, viêc ba R giư giấy chứng nhận quyền sư dung đất của ba H va ông N nhưng không được sư đồng ý của ông N la không phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xet xư không chấp nhận yêu câu của ba R, buộc ba R phai có nghĩa vu tra lai giấy chứng nhận quyền sư dung đất lai cho ba H va ông N la phù hợp với quy định tai Điều 166 của Luật Đất đai.

[5] Như nhận định trên, yêu câu của ba R về tranh chấp hợp đồng đặt cọc được chấp nhận. Cho nên viêc ba H yêu câu tuyên bô vô hiêu hợp đồng đặt cọc va giai quyêt theo hợp đồng vay tai san la không có căn cứ nên Hội đồng xet xư không chấp nhận. Theo đó, lời trình bay của ba H va ba L về viêc ba H vay ba R sô tiền 600.000.000 đồng va thê chấp giấy chứng nhận quyền sư dung đất cho ba R, ba L có tra lãi cho ba R 540.000.000 đồng/thang trong 05 thang. Nay ba L đồng ý cùng ba H có nghĩa vu tra vôn 600.000.000 đồng cho ba R la không có căn cứ nên Hội đồng xet xư không chấp nhận la phù hợp với cac điều 117 va 463 của Bộ luật Dân sư.

[6] Về an phí dân sư sơ thâm: Căn cứ cac điều 12 va 26 Nghị quyêt 326/2016/UBTVQH ngay 30-12-2016 của Ủy ban thường vu Quôc hội quy định về an phí, lê phí Toa an: Ba H la người cao tuổi nên không phai chịu an phí, ông N phai chịu 300.000 đồng do yêu câu tuyên bô vô hiêu hợp đồng đặt cọc không được chấp nhận.

[7] Về chi phí giam định chư ký, chư viêt va dấu vân tay: Buộc ba H phai chịu 4.080.000 đồng.

Vì cac lẽ trên,

QUYÊT ĐỊNH:

Căn cứ vao cac điều 228, 217, 218 va 219 của Bộ luật Tô tung dân sư; cac điều 117, 328, 401, 463 va 351 của Bộ luật Dân sư; cac điều 27 va 37 của Luật Hôn nhân va gia đình; Điều 166 của Luật Đất đai; cac điều 12, 26 của Nghị quyêt 326/2016/UBTVQH ngay 30-12-2016 của Ủy ban thường vu Quôc hội quy định về an phí, lê phí Toa an:

1. Chấp nhận một phân yêu câu khơi kiên của ba Nguyễn Thị R.

Buộc ba Nguyễn Thị Ngọc H có nghĩa vu tra cho ba Nguyễn Thị R sô tiền 1.200.000.000 đồng (một tỷ, hai trăm triêu đồng). (Trong đó bao gồm 800.000.000 đồng tiền nhận đặt cọc va 400.000.000 đồng tiền bồi thường do vi pham hợp đồng).

2. Không chấp nhận yêu câu của ba R về viêc yêu câu ông N cùng với ba H có nghĩa vu tra sô tiền trên cho ba R

3. Buộc ba Nguyễn Thị R có nghĩa vu tra cho ba Nguyễn Thị Ngọc H va ông Vương Ngọc N ban chính giấy chứng nhận quyền sư dung đất, đôi với phân đất có diên tích 654,4 m2, thuộc thưa sô 306, tờ ban đồ sô 17, tọa lac tai ấp Đ, xã P, huyên G, tỉnh TN, có giấy chứng nhận quyền sư dung đất do ba H va ông N đứng tên, được Sơ Tai nguyên va Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp ngay 30-3-2017, sô CS02627.

4. Không chấp nhận yêu câu của ba Nguyễn Thị Ngọc H va ông Vương Ngọc N về yêu câu tuyên bô vô hiêu hợp đồng đặt cọc được ghi ngay 07-3-2020 âm lịch va ngay 07-4-2020 âm lịch giưa ba Nguyễn Thị Ngọc H va ba Nguyễn Thị R.

5. Đình chỉ yêu câu khơi kiên của ba R với sô tiền yêu la 1.200.000.000 đồng

6. Về an phí dân sư sơ thâm: Ba H la người cao tuổi nên được miễn nộp tiền an phí. Buộc ông N phai chịu 300.000 đồng. Được khấu trừ 300.000 đồng tiền tam ứng an phí ba H va ông N đã nộp theo biên lai thu sô 0013011 ngay 02-06-2021 của Chi cuc Thi hanh an dân sư huyên Go Dâu. Ông N đã nộp đủ an phí.

7. Về chi phí giam định chư ký, chư viêt va dấu vân tay: Buộc ba H phai chịu 4.080.000 đồng. Ghi nhận ba H đã nộp đủ sô tiền nay va đã chi xong.

Kể từ khi ba R có đơn yêu câu thi hanh an nêu ba H không thi hanh thì hang thang ba H con phai tra cho ba R phân lãi suất chậm thưc hiên nghĩa vu theo quy định tai khoan 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sư.

Đương sư có mặt có quyền khang cao lên Toa an nhân dân tỉnh Tây Ninh trong han 15 ngay kể từ ngay tuyên an. Riêng đương sư vắng mặt được quyền khang cao trong han 15 ngay kể từ ngay nhận được ban an hoặc ban an được tông đat hợp lê.

Trường hợp ban an được thi hanh theo quy định tai Điều 2 Luật Thi hanh an dân sư, thì người được thi hanh an dân sư, người phai thi hanh an dân sư có quyền thỏa thuận thi hanh an, quyền yêu câu thi hanh an, tư nguyên thi hanh an hoặc bị cưỡng chê thi hanh an theo quy định tai cac điều 6, 7 va 9 Luật Thi hanh an dân sư; thời hiêu thi hanh an được thưc hiên theo quy định tai Điều 30 Luật Thi hanh an dân sư.

Cỡ chữ