- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phạm Kim L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2021/HSST Ngày: 06/01/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Thị Sơn Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trần Văn Phủ
2/ Ông Phan Ngọc Thuận
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Thủy
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Ngô Tuấn Kiệt – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2022, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 193/2021/TLST-HS ngày 08/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 272/2021/QĐXXST-HS ngày 15/12/2021đối v i bị cáo:
Nguyễn Phạm Kim L; Sinh năm: 1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 760 Đường A, phường B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Gi i tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P và bà Phạm Thị X(đã chết). Có vợ Phạm Thị Như B và 02 con sinh năm 2015 và 2020.
Tiền án, Tiền sự: không
Nhân thân: Năm 2015, bị Công an phường Hiệp Bình Phư c, TP. Thủ Đức xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Năm 2017 đến năm 2019: Bị Công an phường Hiệp Bình Phư c, thành phố Thủ Đức đưa đi cai nghiện bắt buộc 2 năm tại trại Phú Văn.
Tạm giam từ ngày 05/6/2021, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Huỳnh Tấn Q; Địa chỉ: 66 đường A, phường B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
2. Ông Phan Minh Phương T; Địa chỉ: 57 đường A, phường B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
3. Bà Nguyễn Thị Thùy L; Địa chỉ: 319/2B Đường A, Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 45 phút ngày 05/6/2021, tại trư c số 494 Đường A, Phường B, quận C, thành phố Hồ Chí Minh, Tổ tuần tra Đội 3, PC02 Công an Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện 02 đối tượng nam điều khiển xe máy hiệu Honda Wave mang BKS: 59C1- 090.03 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Tại thời điểm kiểm tra đối tượng điều khiển xe khai tên Phan Minh Phương T, đối tượng ngồi sau xe khai tên Nguyễn Phạm Kim L. Quá trình kiểm tra, Tổ tuần tra phát hiện tại túi quần phía trư c bên phải L đang mặc có 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng, L khai nhận là “ma túy đá” do L cất giấu để sử dụng. Tổ tuần tra đưa người cùng tang vật về Công an Phường 25, quận Bình Thạnh để tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong tang vật và chuyển hồ sơ cho Công an quận Bình Thạnh thụ lý, điều tra theo quy định.
Kết luận giám định số 3760/KLGĐ-H ngày 14/06/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 gói nylon niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Phạm Kim L; Nguyễn Viết Nhật (Điều tra viên); Trương Ngọc P, Phan Minh Phương T (người chứng kiến) và hình dấu Công an Phường 25, quận Bình Thạnh gửi đến giám định bên trong gồm có: 01 gói nylon chứa tinh thể không màu ký hiệu mẫu m là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,6071g (không phẩy sáu không bảy một gam).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh Nguyễn Phạm Kim L khai nhận hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau:
Nguyễn Phạm Kim L khai nhận L và Phan Minh Phương T là bạn bè quen biết ngoài xã hội khoảng một năm nay. Khoảng trưa ngày 05/6/2021, L có nhờ T chở đi lấy quần áo tại nhà chị của L, do chị của L không có nhà nên không lấy được quần áo nên L nhờ T chở qua khu vực cầu Thị Nghè, Phường 19, quận Bình Thạnh. Khi đến nơi, L đi qua đường rồi gọi điện cho số xxxxxxxxxx gặp người phụ nữ (không rõ lai lịch) để hỏi mua 500.000 đồng ma túy “đá”. Sau đó người phụ nữ đến thì L đưa 500.000 đồng và người phụ nữ đưa lại cho L 01 gói ma túy “đá”, L cất giấu gói ma túy “đá” vào trong túi quần phía trư c bên phải rồi đi lại chỗ T để T chở về. Trên đường về thì T, L bị Công an kiểm tra và thu giữ 01 gói ma tý đá như trên. Mục đích L mua, cất giấu ma túy là để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích nào khác. Việc L mua ma túy thì không ai biết và tham gia cùng, T cũng hoàn toàn không biết việc L mua, cất giấu ma túy.
Phan Minh Phương T khai nhận toàn bộ sự việc T sử dụng xe máy hiệu Wave mang BKS: 59C1- 090.03 chở L và bị Công an kiểm tra thu giữ ma túy như lời khai của L, T không biết và không liên quan đến việc L mua và cất giấu số ma túy mà Công an thu giữ.
Kết quả test ma túy L, T đều dương tính v i ma túy loại Methamphetamine và Amphetamine.
Tại bản cáo trạng số 196/CT-VKS ngày 01 tháng 11 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Phạm Kim L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, sau khi luận tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Kim L mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.
Về vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời nói sau cùng của bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo s m trở về hòa nhập cộng đồng làm người công dân tốt cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại cơ quan điều tra cũng như qua thẩm tra xét hỏi tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Phạm Kim L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp v i biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ, cho thấy:
Vào lúc 11 giờ 45 phút ngày 05/6/2021, Tổ tuần tra Đội 3 PC02 - Công an Thành phố Hồ Chí Minh tuần tra đến trư c nhà số 494 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 25, quận Bình Thạnh, phát hiện Nguyễn Phạm Kim L có hành vi tàng trữ 0,6071g (không phẩy sáu không bảy một gam) ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine , mục đích cất giấu là để sử dụng nên đã bàn giao cho Công an quận Bình Thạnh xử lý.
Căn cứ Kết luận giám định số 3760/KLGĐ-H ngày 14/06/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 gói nylon niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Phạm Kim L; Nguyễn Viết Nhật (Điều tra viên); Trương Ngọc P, Phan Minh Phương T (người chứng kiến) và hình dấu Công an Phường 25, quận Bình Thạnh gửi đến giám định bên trong gồm có: 01 gói nylon chứa tinh thể không màu ký hiệu mẫu m là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,6071g (không phẩy sáu không bảy một gam). Như vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối v i đối tượng Phan Minh Phương T do không có chứng cứ chứng minh T liên quan đến số ma túy của Nguyễn Phạm Kim L cất giữ nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối v i T là có căn cứ. Tuy nhiên, qua test ma túy thì T dương tính v i ma túy nên Cơ quan điều tra đã giao T cho Công an Phường 25 xử lý theo quy định.
Đối v i đối tượng nữ đã bán ma túy cho Nguyễn Phạm Kim L tại Cầu Thị Nghè, do không rõ nhân thân, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Cầu Thị Nghè nhưng không phát hiện đối tượng nào như lời khai của L, nên khi nào phát hiện sẽ xử lý sau.
Bị cáo đủ khả năng nhận thức ma túy là chất gây nghiện, người sử dụng sẽ bị hủy hoại cả thể chất lẫn tinh thần, ai vi phạm sẽ bị Nhà nư c xử lý nghiêm khắc. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự trị an tại địa phương. Hành vi này đã tiếp tay cho các tội phạm khác về ma túy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chính sách phòng chống tội phạm về ma túy, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất gây nghiện của nư c ta hiện nay. Bị cáo có nhân thân xấu còn tiếp tục phạm tội nên xét cần xử phạt nghiêm đối v i bị cáo nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 gói niêm phong số vụ 3760 (915/21), có chữ ký của giám định viên Bùi Công Danh và cán bộ điều tra Ngô Sỹ Anh Tuấn, bên trong chứa 0,4342g ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau khi đã giám định.
Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen trắng có gắn sim xxxxxxxxxx là điện thoại L sử dụng để liên lạc mua ma túy
- Xét 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave mang BS: 59C1 – 090.03, số máy: HC12E-0531723, số khung: HC12228Y-020777. Qua xác minh số máy, số khung của xe nguyên thủy không thay đổi, xe trên do Nguyễn Thúy A ngụ: 243 Đường A, phường B, thành phố Thủ Đức đứng tên đăng ký chủ sở hữu và được cấp biển số 54R2 – 1383. Năm 2011, chị Anh chuyển hộ khẩu nên đăng ký lại xe được cấp biển số 59X2 – 030.03, sau đó chị bán xe cho một cửa hàng xe cũ. Ngày 08/10/2021, anh Huỳnh Tấn Q ngụ 66, đường 13, KP2, phường Linh Chiểu, thành phố Thủ Đức có đến cửa hàng xe cũ (không nh tên, địa chỉ) mua lại xe trên để sử dụng không sang tên, hiện anh Q đang giữ giấy tờ xe. Đến tháng 6/2020, anh Q có cho Phạm Minh Phương T mượn xe để sử dụng, khi cho mượn xe anh Q chỉ giao xe không giao biển số 59X2 – 030.03 vì sợ T bán xe, T sử dụng xe trên để chở bạn đi mua ma túy anh Q không biết. Phạm Minh Phương T khai nhận T mượn xe trên của anh Q để làm phương tiện đi lại, do xe không có biển số nên T xin biển số 59C1 -090.03 của một người bạn ngoài xã hội (không rõ lai lịch) để gắn vào. Qua xác minh biển số xe trên được cấp cho xe Honda Dylan do Nguyễn Thị Thùy L ngụ 319/2B Bùi Hữu Nghĩa, Phường 1, Bình Thạnh đứng tên, hiện nay chị Linh đã bán nhà đi đâu không rõ. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu biển số xe nhưng đến nay chị Linh chưa có đến liên hệ. HĐXX xét cần trả xe gắn máy trên cho chủ sở hữu là anh Huỳnh Tấn Q vì không liên quan đến vụ án và đăng báo tìm chủ sở hữu biển số xe trong thời hạn 6 tháng nếu quá thời hạn trên không có chủ sở hữu thì tịch thu tiêu hủy biển số xe 59C1 - 090.03.
Theo Biên n giao nh n v t ch ng ngày 24/11/2021 t i Chi cục thi hành án dân s qu n B nh Th nh .
Về án phí:Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phạm Kim L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Kim L 02 năm tù
Thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2021.
2/ Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 gói niêm phong ghi số 3760 (915/21), có chữ ký của giám định viên Bùi Công Danh và cán bộ điều tra Ngô Sỹ Anh Tuấn, bên trong chứa 0,4342g ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau khi đã giám định.
Đăng báo trong thời hạn 06 tháng để tìm chủ sở hữu nếu quá thời hạn 6 tháng không có chủ sở hữu thì tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe 59C1 -090.03
Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen trắng có gắn sim xxxxxxxxxx không kiểm tra tình trạng hoạt động.
Tr l i cho ông Huỳnh Tấn Q 01 xe máy nhãn hiệu Honda số loại Wavers, số máy: HC12E-0531723, số khung: HC12228Y-020777, dung tích xi lanh: 97, không kiểm tra tình trạng hoạt động.
Theo Biên n giao nh n v t ch ng ngày 24/11/2021 t i Chi cục thi hành án dân s qu n B nh Th nh .
3/Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND Tp.HCM; - VKSND q.Bình Thạnh; - Nhà tạm giữ - CA quận Bình Thạnh; - Chi cục THA quận Bình Thạnh; - Thi hành án hình sự; - PC.27 Công an Tp.HCM; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu VP - HS. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ T A PHI N TÒA L Th S n Th y |