vanban.org

Bản án 08/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 03/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố, bị cáo Phan Công Cha L và bị cáo Hồ Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc D 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2021. Xử phạt bị cáo Phan Công Cha L 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Ngọc D, Phan Công Cha L - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố, bị cáo Phan Công Cha L và bị cáo Hồ Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƯ THANH
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2021/HSST
Ngày 03/6/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng.

Hội thẩm nhân dân:

- Ông Lê Văn Nghĩa;

- Ông Vũ Ngọc Tài.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Thanh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh tham gia phiên tòa: Bà Mai Cẩm Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Như thanh, tỉnh Thanh Hóa, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/HSST ngày 20 tháng 4 năm 2021; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07 ngày 20 tháng 5 năm 2021, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hồ Ngọc D; Giới tính: Nam; Sinh ngày 02 tháng 8 năm 2002 tại: huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắc. Nơi ĐKTT: Khu phố 4, TT. Bến Sung, H. Như Thanh, T. Thanh Hóa. Chỗ ở hiện nay: Khu phố 4, TT. Bến Sung, H. Như Thanh, T. Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Hồ Ngọc Tiên - SN 1974; Con bà: Đỗ Thị Bình - Đã chết; Bị cáo là con duy nhất của gia đình. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/3/2021 đến ngày 18/3/2021 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam. Bị cáo đang bị tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Phan Công Cha L; Giới tính: Nam; Sinh ngày 17 tháng 01 năm 2000 tại: TT. Bến Sung, H. Như Thanh. T. Thanh Hóa. Nơi ĐKTT: Khu phố Hải Ninh, TT. Bến Sung, H. Như Thanh, T. Thanh Hóa. Chỗ ở hiện nay: Khu phố Hải Ninh, TT. Bến Sung, H. Như Thanh, T. Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phan Công H - Đã chết; Con bà: Vũ Thị T - SN 1958; Bị cáo là con duy nhất của gia đình. Tiền án: Năm 2019 TAND huyện Như Thanh xử phạt 24 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 07/2019/HSST ngày 11/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Như Thanh. Tiền sự: Ngày 12/02/2019 Phan Công Cha L bị Công an huyện Như Thanh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21/QĐ-XLVPHC về hành vi Trộm cắp tài sản. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 16/12/2020 đến ngày 16/3/2021 thì thay đổi biện pháp ngăn chặm Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Anh Hoàng Ngọc L, sinh năm 1995; Có địa chỉ tại: Khu phố 3, thị trấn Bến Sung, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 17/11/2020, Hồ Ngọc D SN 02/8/2002 cùng với Phan Công Cha L, Hoàng Ngọc L và Nguyễn Đình N tất cả đều trú tại thị trấn Bến Sung, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa đến quán Karaoke Vân Còi có địa chỉ tại thôn Hải Xuân, xã Hải Long, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa thuê hát. Tại phòng hát số 1 của quán, D cùng mọi người gọi 02 nhân viên vào phục vụ bấm bài, rót bia và hát cùng. Đến khoảng 23 giờ anh Nhiên ra về trước, trong phòng hát vẫn còn D, L và L hát, uống bia cùng nhân viên. Quá trình hát D có mượn chiếc điện thoại Iphone 8Plus, màu vàng gold của anh L để chơi và được anh L cho mượn 02 lần. Sau đó D tiếp tục hỏi mượn điện thoại của anh L nhưng anh L không cho mượn do điện thoại hết pin. Đến khoảng 04 giờ ngày 18/11/2020 khi thấy anh L đang ngồi ngủ say trên ghế trong phòng hát, vì muốn sử dụng điện thoại nên D đã lấy chiếc điện thoại trong bao áo ngực của anh L rồi hỏi nhân viên mượn sạc điện thoại. D đem sạc pin ở kệ loa. Hành vi lấy điện thoại từ trong bao áo ngực anh L và mang đi sạc ở kệ loa của D đều được L nhìn thấy. Cùng lúc này D nảy sinh ý định sẽ trộm cắp chiếc điện thoại của anh L mang đi bán lấy tiền tiêu xài. Sau khi điện thoại sạc pin được một lúc, D lấy điện thoại mang ra khỏi phòng hát. Sau đó D mở cửa phòng hát rồi gọi L ra ngoài nói chuyện. Trước cửa phòng hát số 1, D rủ L cùng lấy chiếc điện thoại của anh L mang đi thành phố Thanh Hóa bán lấy tiền tiêu xài thì L đồng ý. Sau đó D gọi xe dịch vụ của anh Hồ Công Tấn, SN 1980 ở thôn Xuân Hưng, xã Xuân Khang đến quán hát chở hai người đi. Đến đoạn xã Yên Thái, huyện Nông Cống Cha L hỏi D “thế lấy tiền đâu trả tiền taxi”, thì D trả lời “lấy tiền bán điện thoại đây”. Xuống đến thành phố Thanh Hóa, D mang chiếc điện thoại vào cửa hàng sửa chữa, mua bán điện thoại cũ do anh Nguyễn Ngọc L làm chủ, có địa chỉ tại Sô nhà 583, đường Quang Trung 3, phường Đông Vệ, TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa để hỏi bán và bán được với số tiền là 4.100.000đ (Bốn triệu một trăm nghìn đồng). Có được tiền từ việc bán điện thoại, D trả tiền taxi hết 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), rồi cả hai thuê nhà nghỉ gần đó nghỉ ngơi. D đưa cho L nhiều lần với tổng số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng). Số còn lại D tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 30/11/2020 CQ CSĐT Công an huyện Như Thanh đã có yêu cầu định giá tài sản số 26/CSĐT xác định giá trị chiếc điện thoại bị mất trộm.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 22 ngày 27/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện Như Thanh kết luận: Chiếc điện thoại di động có giá trị tại thời điểm bị mất trộm là: 5.400.000đ (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng).

Ngày 16/12/2020 CQ CSĐT Công an huyện Như Thanh ra QĐ KTVA và KTBC đối với Hồ Ngọc D và Phan Công Cha L. Đồng thời ra Lệnh bắt tạm giam đối với Phan Công Cha L. Còn Hồ Ngọc D bỏ trốn, ngày 04/01/2021 CQ CSĐT Công an huyện Như Thanh ra quyết định truy nã đối với D. Ngày 15/3/2021 thì D đến CQ CSĐT Công an huyện Như Thanh đầu thú.

Tại cơ quan điều tra, Hồ Ngọc D và Phan Công Cha L đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các đối tượng khai nhận phù hợp với tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra thu thập được.

Về chiếc điện thoại D và L trộm cắp, bán cho anh Nguyễn Ngọc Long, CQ CSĐT Công an huyện Như Thanh đã tiến hành làm việc với anh Long. Tuy nhiên, anh Long do không biết chiếc điện thoại là tài sản trộm cắp mà có nên đã tháo ốp lưng, sửa chữa lại và bán cho khách. Khi CQ CSĐT công an huyện Như Thanh làm việc, anh Nguyễn Ngọc Long đã tự nguyện giao nộp chiếc ốp lưng nói trên.

- Đối với việc quán Karaoke Vân Còi ở thôn Hải Xuân, Hải Long, Như Thanh để cho khách thuê phòng hát từ 20 giờ ngày 17/11/2020 đến hơn 04 giờ sáng ngày 18/11/2020 và sử dụng 02 nhân viên phục vụ khách trong suốt quá trình hát, uống bia là vi phạm khoản 6 và khoản 7, Điều 32 Nghị định 103/2009/NĐ-CP quy định về Trách nhiệm của chủ cơ sở kinh doanh Karaoke. Công an huyện Như Thanh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Cơ sở kinh doanh karaoke Vân Còi theo quy định tại điểm a, khoản 1 và điểm b khoản 2, Điều 19 Nghị định 158/NĐ-CP đối với các lỗi vi phạm: “Sử dụng nhân viên phục vụ trong một phòng karaoke vượt quá số lượng theo quy định” và “Hoạt động karaoke quá giờ được phép”.

- Đối với việc anh Nguyễn Ngọc Long mua chiếc điện thoại của Hồ Ngọc D, thời điểm đó anh Long không biết chiếc điện thoại là do D trộm cắp. Do đó, không có căn cứ, cơ sở để xử lý đối với anh Nguyễn Ngọc Long về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Đối với việc anh Hồ Công T được Hồ Ngọc D gọi điện thoại thuê chở xuống thành phố thì anh T không biết D và L vừa thực hiện xong hành vi trộm cắp và đang mang chiếc điện thoại xuống thành phố Thanh Hóa tiêu thụ. Bản thân anh T cũng không biết số tiền Hồ Ngọc D trả tiền taxi là do D bán chiếc điện thoại trộm cắp mà có. Do đó không có căn cứ, cơ sở để xử lý đối với anh Hồ Công T.

Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 19 tháng 4 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, truy tố các bị cáo Cha L và D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo L và bị cáo D.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

- Các bị cáo Phan Công Cha L và Hồ Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Công Cha L từ 09 đến 12 tháng tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc D từ 09 đến 12 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận, buộc: bị cáo L bồi thường thiệt hại cho anh L số tiền là 1.000.000đ; bị cáo D bồi thường thiệt hại cho anh L số tiền là 4.400.000đ.

Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016:

Buộc bị cáo Phan Công Cha L và bị cáo Hồ Ngọc D phải chịu án phí hình sự, dân sự theo quy định của pháp luật.

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng liên quan đến vụ án do không có giá trị sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan điều tra Công an huyện Như Thanh, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi đó đã thực hiện hợp pháp.

Về tội danh, tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đó là: Rạng sáng ngày 18/11/2020 Hồ Ngọc D cùng với Phan Công Cha L lợi dụng lúc anh L ngủ say đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus của anh Hoàng Ngọc L tại quán Karaoke Vân Còi ở thôn Hải Xuân, xã Hải Long, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa rồi mang xuống cửa hàng sửa chữa, mua bán điện thoại của anh Nguyễn Ngọc L ở thành phố Thanh Hóa bán lấy số tiền là 4.100.000đ (bốn triệu một trăm nghìn đồng). Sau đó cả hai bị cáo chia nhau tiêu xài hết số tiền trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 22 ngày 27/4 của Hội đồng định giá tài sản huyện Như Thanh kết luận: chiếc điện thoại thời điểm bị mất trộm có giá trị là 5.400.000đ (năm triệu bốn trăm nghìn đồng).

Như vậy lời khai các của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở kết luận, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh truy tố các bị cáo Hồ Ngọc D và Phan Công Cha L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Do vậy, cần thiết phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc để răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, vai trò của các bị cáo trong vụ án là khác nhau, bị cáo D là người rủ rê bị các L, trực tiếp thực hiện trộm cắp tài sản. Bị cáo L là người ủng hộ rồi hưởng lợi từ việc bán tài sản trộm cắp. Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phat.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo thì thấy.

- Tình tiết tăng nặng: Do bị cáo L mới chấp hành xong án phạt 24 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” vào ngày 24/10/2020, theo bản án số 07/2019/HSST ngày 11/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Như Thanh chưa được xóa án lại phạm tội mới phải nên chịu tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

+ Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo D được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo được quy định tại điểm i, s, khoản 1 Điều 51 và đầu thú được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo L được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không bị phạt tiền.

Các vấn đề khác liên quan đến vụ án.

- Về chiếc điện thoại D và L trộm cắp, bán cho anh Nguyễn Ngọc L, CQ CSĐT Công an huyện Như Thanh đã tiến hành làm việc với anh L. Tuy nhiên, anh L do không biết chiếc điện thoại là tài sản trộm cắp mà có nên đã tháo ốp lưng, sửa chữa lại và bán cho khách. Khi CQ CSĐT công an huyện Như Thanh làm việc, anh Nguyễn Ngọc L đã tự nguyện giao nộp chiếc ốp lưng nói trên.

- Đối với việc quán Karaoke Vân Còi ở thôn Hải Xuân, Hải Long, Như Thanh để cho khách thuê phòng hát từ 20 giờ ngày 17/11/2020 đến hơn 04 giờ sáng ngày 18/11/2020 và sử dụng 02 nhân viên phục vụ khách trong suốt quá trình hát, uống bia. Công an huyện Như Thanh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Cơ sở kinh doanh karaoke Vân Còi theo quy định.

- Đối với việc anh Nguyễn Ngọc L mua chiếc điện thoại của Hồ Ngọc D, thời điểm đó anh L không biết chiếc điện thoại là do D trộm cắp. Do đó, không có căn cứ, cơ sở để xử lý đối với anh Nguyễn Ngọc L về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Đối với việc anh Hồ Công T được Hồ Ngọc D gọi điện thoại thuê chở xuống thành phố thì anh T không biết D và L vừa thực hiện xong hành vi trộm cắp và đang mang chiếc điện thoại xuống thành phố Thanh Hóa tiêu thụ. Bản thân anh T cũng không biết số tiền Hồ Ngọc D trả tiền taxi là do D bán chiếc điện thoại trộm cắp mà có. Do đó không có căn cứ, cơ sở để xử lý đối với anh Hồ Công Tấn.

Các vấn đề trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Như Thanh đã thực hiện đúng quy định của pháp luật nê Hội đồng xét xử không xét.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa bị hại là anh Hoàng Ngọc L yêu cầu bị cáo D và L phải bồi thường thiệt hại số tiền tương đương với giá trị chiếc địện thoại Iphone 8 Plus mà các bị cáo đã trộm cắp của anh L với số tiền là 5.400.000đ. Bị cáo D tự nhận chịu trách nhiệm bồi thường cho anh L là 4.400.000đ, bị cáo L tự nhận trách nhiệm bồi thường cho anh L là 1.000.000đ. Hội đồng xét xử thấy là phù hợp, đúng pháp luật nên ghi nhận, buộc các bị cáo thực hiện trách nhiệm này.

Về án phí:

- Bị cáo Phan Công Cha L và bị cáo D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm; tiền án phí dân sự theo quy định.

Về kháng cáo: Các bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố, bị cáo Phan Công Cha L và bị cáo Hồ Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc D 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2021.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Phan Công Cha L 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Miễn hình phạt tiền đối với các bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự.

- Bị cáo Hồ Ngọc D phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh Hoàng Ngọc L số tiền là 4.400.000đ (Bốn triệu bốn trăm nghìn đồng).

- Bị cáo Phan Công Cha L phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh Hoàng Ngọc L số tiền là 1.000.000đ (Một triệu đồng).

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành vẫn chưa trả số tiền phải trả thì ngoài số tiền chậm trả, hàng tháng bên phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tương ứng thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21; Điều 23 và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Phan Công Cha L và Hồ Ngọc D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo Hồ Ngọc D và bị cáo Phan Công Cha L mỗi bị cáo phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ