- Tranh chấp gì? án hình sự — "Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La về phần hình phạt đối với Lò Thanh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, b…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm 02/2020/QĐ-VKS ngày 23 tháng 12 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2020/HS - ST ngày 26 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự và tuyên; Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2021/HSPT Ngày 28-01-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cầm Văn Thanh
Các Thẩm phán: Ông Lò Văn Điệt, ông Phạm Tuấn Minh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2021/TLPT-HS ngày 07 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo Lò Thanh T do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2020/HS-ST ngày 26/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
Bị cáo bị kháng nghị: Lò Thanh T; tên gọi khác: Không, sinh năm 2001 tại huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản K, xã C, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Lò Văn Ch và bà Ngần Thị M; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không, tạm giam từ ngày 09/8/2020 đến khi xét xử sơ thẩm, hiện đang tại ngoại. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo đơn trình báo tố giác tội phạm của anh Đặng Văn S, sinh năm: 1984, địa chỉ: Bản B, xã L, huyện Vân Hồ vào ngày 09/8/2020 tại bản L1, xã L nghi đối tượng T bán bò là tài sản trộm cắp, anh Sơn đã không mua bò và trình báo sự việc với Công an xã L. Công an xã L đã yêu cầu Lò Thanh T về trụ sở UBND xã L để làm việc, T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp bò với Cơ quan Công an.
Tại Cơ quan điều tra, Lò Thanh T khai: Do đi làm thuê ở Bắc Giang nhưng thiếu tiền tiêu sài cá nhân, nên T nảy sinh ý định lên bản K, xã C để trộm cắp bò. Ngày 08/8/2020 T đi xe khách từ Bắc Giang về tỉnh Sơn La. Khoảng 23 giờ 20 phút T đến bản L, xã Vân Hồ rồi đi bộ đến bản K, xã C. Khoảng hơn 0l giờ sáng ngày 09/8/2020 T đến bản K. Tại đây T phát hiện có một đàn bò của gia đình anh Lò Văn Ch1. T đã tháo dây thừng và dắt 01 bò đi theo hướng ngược lại đến bản L để tìm người mua bò. T đăng lên Facebook tìm người mua bò, T đã tìm được số điện thoại và gọi điện báo địa điểm hẹn anh Đặng Văn S để gặp và mua, bán bò. Anh S nghi là bò trộm cắp nên không mua. Một lúc sau thì Công an xã L yêu cầu bị cáo về trụ sở UBND xã để làm việc.
Ngày 09/8/2020 Cơ quan điều tra Công an huyện Vân Hồ đã tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi Lò Thanh T trộm cắp con bò và nơi buộc bò sau khi trộm cắp được, kết quả xác định:
Nơi Lò Thanh T trộm cắp con bò: Tại đường dân sinh khu vực P (P1) thuộc bản K, xã C, huyện Vân Hồ. Khu vực chăn thả con bò có 01 cọc gỗ đóng xuống đất, phần lộ thiên kích thước 17x3cm được xác định là nơi buộc con bò. Vị trí chiếc cọc cách đường mòn đi nương là 24m, cách bờ ao lán nương của gia đình Lò Văn Ch1 18,7m. Quá trình khám nghiệm không thu giữ gì.
Nơi Lò Thanh T buộc bò sau khi trộm cắp được: Tại đường mòn dân sinh đi qua khu vực đất vườn của Giàng A C2, trú tại Bản L1, xã L. Vị trí T buộc bò là 01 bụi cây dại có kích thước 2x5m. Quá trình khám nghiệm không thu giữ gì.
Ngày 10/8/2020 Cơ quan điều tra trưng cầu hội đồng định giá tài sản 01 con bò cái, khoảng 6 tuổi, nặng khoảng 170kg, lông mầu đen, sừng dài khoảng 13cm. Kết quả định giá con bò do Tùng trộm cắp có giá 12.000.000đ.
Tài liệu, đồ vật thu giữ của Lò Thanh T: 01 chiếc điện thoại Iphone 6, màu vàng nhạt, có ốp lưng màu đỏ, có gắn sim Viettel số điện thoại 0975.938.561; tiền mặt 710.000đ.
Do có hành vi nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2020/HS-ST ngày 26/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự;
1. Tuyên bố bị cáo Lò Thanh T phạm tội: Trộm cắp tài sản.
2. Xử phạt bị cáo Lò Thanh T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Lò Thanh T cho UBND xã C giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối họp với cơ quan, tố chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục Lò Thanh T. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
- Về hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Tuyên trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, vấn đề dân sự, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo.
Ngày 30/11/2020 Tòa án huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đã có thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số: 01/2020/TB-TA về việc thông báo sửa chữa, bổ sung bản án.
Phần Quyết định của bản án tại trang 5, từ trên xuống dòng 31 đến dòng 32 của bản án sơ thẩm trên đã ghi “ 2. Xử phạt bị cáo Lò Thanh T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng”.
Nay được sửa chữa bổ sung như sau: “2. Xử phạt bị cáo Lò Thanh T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.”
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo và bị hại không kháng cáo.
* Ngày 23 tháng 12 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La kháng nghị phúc thẩm số: 02/QĐ-VKS, nội dung:
1. Kháng nghị một phần bản án hình sự sơ thẩm số:12/2020/HS - ST ngày 26 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, phần hình phạt đối với bị cáo Lò Thanh T;
2. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
- Áp dụng bố sung các khoản 1,2,5 của Điều 65 Bộ luật hình sự khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự và tuyên thời điểm bắt đầu tính thời gian thở thách từ ngày 26/11/2020;
- Trừ thời gian tam giữ, tạm giạm (03 tháng 20 ngày) vào thời gian chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo.
Lý do kháng nghị: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ đã không trừ thời gian tạm giữ, tạm giam vào thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo là vi phạm nghiêm trọng Điều 38 Bộ luật Hình sự, gây ảnh hưởng đến quyền lợi bị cáo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, tội danh và mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã xét xử; về nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, bị cáo không nhất trí, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu về quá trình thực hiện tố tụng của Tòa án đúng quy định của pháp luật và đề nghị: Căn cứ khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận nội dung Kháng nghị số 02/KN ngày 23/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2020/HS-ST ngày 26/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 của Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lò Thanh T 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Được trừ 03 tháng 20 ngày giam, giữ, còn phải chấp hành là 8 tháng 10 ngày, thử thách 16 tháng 20 ngày, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Đối với việc ban hành thông báo sửa chữa bổ sung Bản án số 01/TB-TA ngày 30/11/2020 và không áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa của Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, Tòa án nhân dân tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh cần phải rút kinh nghiệm đối với Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ trong việc áp dụng các quy định của pháp luật.
- Về án phí: Căn cứ điểm d, khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, và lệ phí Tòa án thì Viện kiểm sát kháng nghị Bản án theo thủ tục phúc thẩm nên bị cáo không phải chịu án phí.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Lò Thanh T không có kháng cáo đối với bản án sơ thẩm;
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La có quyết định kháng nghị số 02/2020/ QĐ-VKS ngày 23 tháng 12 năm 2020 đối với Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ. Xét thấy kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Xét về hành vi phạm tội
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lò Thanh T khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định:
Ngày 09/8/2020, Lò Thanh T đến bản K, xã C, huyện Vân Hồ và phát hiện có một đàn bò của gia đình Lò Văn Ch1. T đã tháo dây thừng và dắt 01 con bò đi theo hướng ngược lại đến bản L1 để tìm người mua bò. T đăng lên Facebook tìm người mua bò, T đã tìm được số điện thoại và gọi điện báo địa điểm hẹn anh Đặng Văn S để gặp mua, bán bò. Anh S nghi đối tượng T bán bò là tài sản trộm cắp, anh S đã không mua bò và trình báo sự việc với Công an xã L. Công an xã L đã yêu cầu Lò Thanh T về trụ sở UBND xã L để làm việc. Cơ quan điều tra đã trưng cầu hội đồng định giá tài sản 01 con bò cái, khoảng 6 tuổi, nặng khoảng 170 kg, lông màu đen, sừng dài khoảng 13 cm. Kết quả định giá con bò do bị cáo trộm cắp có giá 12.000.000đ. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
Xét về khung hình phạt và mức hình phạt
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo không có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, đồng thời bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; quyết định cho bị cáo Lò Thanh T hưởng án treo là có căn cứ.
Xét nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La.
- Kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2020/HS - ST ngày 26 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, phần hình phạt đối với bị cáo Lò Thanh T;
- Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng: Áp dụng bổ sung các khoản 1,2,5, của Điều 65 Bộ luật hình sự khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự và tuyên thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách từ ngày 26/11/2020; trừ thời gian tam giữ, tạm giạm (03 tháng 20 ngày) vào thời gian chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo.
Căn cứ vào Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 4 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo quy định: “Khi cho người bị xử phạt tù hưởng án treo, Tòa án phải ấn định thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù, nhưng không được dưới 1 năm và không được quá 5 năm”. Không có quy định nào trừ thời gian tam giữ, tạm giạm vào thời gian chấp hành hình phạt tù đối với người được hưởng án treo.
Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP đã có hiệu lực thi hành kể tử ngày 01/7/2018 và thay thế các hướng dẫn trước đây của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về án treo. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, quyết định ấn định thời gian thử thách 24 tháng đối với bị cáo Lò Thanh T là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 4 Nghị quyết này.
Tòa cấp sơ thẩm không áp dụng khoản 1,2,5 của Điều 65 Bộ luật hình sự, chỉ áp dụng Điều 65 không biết áp dụng cụ thể ở khoản nào, cần rút kinh nghiệm. Tuy nhiên trong phần Quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2020/HS - ST ngày 26 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, đã tuyên đầy đủ nội dung theo quy định tại: khoản 1,2,5 của Điều 65 Bộ luật hình sự. không cần thiết phải bổ sung tại phiên tòa phúc thẩm.
Tòa cấp sơ thẩm Tuyên trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác, không áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự là thiếu sót, cần rút kinh nghiêm. Tuy nhiên tại Tòa cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các Điều luật (Điều 299, 328) Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Theo Quyết định trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa số: 01/2020/HSST-QĐ ngày 26 tháng 11 năm 2020. Nhưng Tại phiên tòa phúc thẩm cẩn bổ sung thêm khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự mới bảo đảm tính căn cứ và chính xác.
Đối với nội dung Tòa cấp sơ thẩm không tuyên tuyên thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách từ ngày 26/11/2020; Tòa án huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đã có thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số: 01/2020/TB-TA ngày 30/11/2020.
Phần Quyết định của bản án tại trang 5, từ trên xuống dòng 31 đến dòng 32 của bản án sơ thẩm trên đã ghi: “ 2. Xử phạt bị cáo Lò Thanh T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng”.
Nay được sửa chữa bổ sung như sau: “2. Xử phạt bị cáo Lò Thanh T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.”
Từ những nhận định, đánh giá nêu trên, xét thấy không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, cần giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 12/2020/HS - ST ngày 26 tháng 11 năm 2020 của Tòa án dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
Về án phí: Do vụ án bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La kháng nghị nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lý lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm d khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm 02/2020/QĐ-VKS ngày 23 tháng 12 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2020/HS - ST ngày 26 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự;
1. Tuyên bố bị cáo Lò Thanh T phạm tội: Trộm cắp tài sản.
2. Xử phạt bị cáo Lò Thanh T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Lò Thanh T cho UBND xã C giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối họp với cơ quan, tố chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục Lò Thanh Tùng. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường họp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng họp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
- Về hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Tuyên trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
3. Về án phí: Bị cáo Lò Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 28/01/2021).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Sơn La; - TAND huyện Vân Hồ; - VKSND huyện Vân Hồ; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Chi cục THADS huyện Vân Hồ; - Công an huyện Vân Hồ; - Bị cáo; - Bị hại; - Phòng KTNV- THA; - Lưu HS-AV. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Phạm Tuấn Minh Lò Văn Điệt | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Cầm Văn Thanh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cầm Văn Thanh |