vanban.org

Bản án 08/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái Tuyên án 24/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hà Đình B phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Hà Đình B 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 29/12/2020. Bị cáo Hà Đình B được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Đình Ba phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Đình B phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHĨA LỘ
TỈNH YÊN BÁI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2021/HS-ST
Ngày 24/3/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Duân.

Ông Vũ Đức Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thúy Ngân, Thư ký TAND thị xã Nghĩa Lộ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tham gia phiên tòa: Ông Hà Lập Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2021/TLST - HS ngày 26 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2021/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Hà Đình B, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 19/8/1987 tại thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Bản L, xã Th, thị xã Ngh, tỉnh Y. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 06/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn Th, sinh năm 1946 và bà Bùi Thị K, sinh năm 1946; Vợ là Lường Thị X (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 08/8/2018 TAND huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 01 năm 06 tháng, ngày 21/02/2020 chấp hành xong; Nhân thân: Ngày 12/5/2009 TAND huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, ngày 30/8/2010 chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/12/2020, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái. Có mặt.

Bị hại: Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn N, xã Ph, thị xã Ngh, tỉnh Y. Có mặt.

Người làm chứng: Anh Hoàng Văn Th, sinh năm 1998. Địa chỉ: Thôn H, xã Thg, thị xã Ngh, tỉnh Y. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày16/12/2020, Hà Đình B đi bộ một mình tại khu vực xã Phù Nham mục đích xem có ai sơ hở để trộm cắp tài sản, khi Ba đi đến nhà anh Hoàng Văn L thuộc thôn N thì phát hiện có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha BKS 21F1-6827, mầu đen bạc để dưới gần nhà sàn, B thấy chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa điện, quan sát xung quanh thấy không có ai, B liền đi vào dắt chiếc xe mô tô ra khỏi nhà anh L, sau đó cho xe trôi dốc và nổ máy đi thẳng về hướng xã Nghĩa Lộ. Khi đi đến khu vực đồi chè thuộc tổ 3, xã Nghĩa Lộ B dừng lại mở cốp xe thấy có 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 010503 mang tên Sùng A L, 01 cờ lê và 01 dụng cụ để mở ốc dài 15cm, dẹt, hai đầu hình tròn ở giữa tròn rỗng. B sử dụng dụng cụ tháo BKS của xe cho vào trong cốp, còn cờ lê và dụng cụ dùng mở ốc B ném vứt tại đó, sau đó B điều khiển xe về nhà Hoàng Văn Th tại thôn H, xã Th chơi. B sử dụng chiếc xe mô tô trên làm phương tiện đi lại đến ngày 28/12/2020 khi B đang điều khiển xe mô tô đến khu vực thôn Ca, xã Ph thì bị Công an xã Phù Nham kiểm tra và đưa về làm việc. Quá trình điều tra B đã khai nhận về hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô của anh L.

Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 chiếc mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha BKS 21F1- 6827, mầu đen bạc; 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 010503 mang tên Sùng A L. Vật chứng không thu giữ được: 01 cờ lê và 01 dụng cụ để mở ốc dài 15cm, dẹt, hai đầu hình tròn ở giữa tròn rỗng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 25/KL – HĐĐGTS ngày 29/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái đã kết luận: Giá trị thực tế của tài sản cần định giá (chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha BKS 21F1-6827, xe cũ đã qua sử dụng) là 6.300.000 đồng (Sáu triệu ba trăm ngàn đồng).

Cáo trạng số: 06/CT-VKS-NL ngày 26 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã truy tố Hà Đình B về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm 03 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không giải quyết.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản đúng như Cáo trạng đã truy tố, không tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh, điều luật và mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo đã nhận ra hành vi của mình là sai nên xin được giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại khai hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì. Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa đã được Hội đồng xét xử công bố lời khai trong hồ sơ phù hợp với nội dung của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thị xã Nghĩa Lộ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và những lời khai khác của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với vật chứng, tài sản đã được thu giữ. Đã chứng minh được vào trưa ngày 16/12/2020, Hà Đình B đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha BKS 21F1-6827, mầu đen bạc có trị giá 6.300.000 đồng (Sáu triệu ba trăm ngàn đồng) của gia đình anh Hoàng Văn Ln ở thôn N, xã Ph, thị xã Ngh, tỉnh Y.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, quyền được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là thanh niên có sức khỏe, đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, biết được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý nghiêm minh nhưng vẫn cố ý thực hiện trộm cắp tài sản của anh L. Hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác để sử dụng làm phương tiện đi lại cho bản thân của bị cáo B đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự đúng như bản Cáo trạng của VKS nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã truy tố đối với bị cáo.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn cho bị hại, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn, khai báo rõ ràng về hành vi của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo.

Bị cáo là người nghiện chất ma túy trong nhiều năm, có 01 tiền sự bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và đã bị kết án một lần về tội Trộm cắp tài sản, như vậy xác định là người có nhân thân xấu.

Đối chiếu với những quy định của pháp luật hình sự, trên cơ sở đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng hình phạt tù phù hợp với tính chất nguy hiểm của tội phạm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, phòng ngừa tội phạm trong giai đoạn hiện nay.

Theo quy định của Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị xử phạt tiền nhưng xét thấy bị cáo là người không có tài sản riêng, bị cáo và các con sống cùng với gia đình và nghiện ma túy trong nhiều năm nên không tạo dựng được tài sản gì có giá trị, vì vậy nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng và tài sản tạm giữ:

01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha BKS 21F1-6827, mầu đen bạc, 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 010503 mang tên Sùng A L đã được cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Hoàng Văn L quản lý sử dụng là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại chiếc xe mô tô bị mất, đối với 01 cờ lê và 01 dụng cụ để mở ốc là những vật đã cũ giá trị rất thấp nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, vì vậy nên Hội đồng xét xử không xem xét về phần dân sự.

Trong vụ án này anh Hoàng Văn Th là người đã cho bị cáo để chiếc xe tại nhà mình nhưng anh Th không biết đó là tài sản trộm cắp nên anh Thơ không phạm tội.

Bị cáo là người thuộc diện hộ nghèo nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Những đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt cũng như các vấn đề cần giải quyết trong vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hà Đình B phạm tội Trộm cắp tài sản.

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hà Đình B 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 29/12/2020.

2. Căn cứ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hà Đình B được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ