vanban.org

Bản án 08/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Lộc, TP. Huế Tuyên án 06/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tạm giam bị cáo: Trần Như Cao, sinh ngày 12/10/1992 tại huyện Phú Lộc,

tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn An Sơn, xã Lộc Sơn, huyện Phú Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Ngọc T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo: Trần Như Cao, sinh ngày 12/10/1992 tại huyện Phú Lộc,
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LỘC
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2021/HS-ST
Ngày: 06/4/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Xuân Huế.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Đức Hiếu.

2. Ông Nguyễn Đình Phú.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thể, cán bộ Tòa án nhân

dân huyện Phú Lộc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc tham gia phiên toà: Ông

Nguyễn Đình Thừa, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 4 năm 2021, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc,

tỉnh Thừa Thiên Huế mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2021/HSST, ngày 19/3/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2021 đối với:

Đặng Ngọc T; giới tính: Nam giới; sinh năm 1979, tại thành phố Hà Nội; nơi

cư trú: Tổ 7, phường L, quận H, thành phố H; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Không có; con ông Đặng Ngọc B (Đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ; Có vợ: Bùi Thị N và 3 người con; tiền sự: Không có; tiền án: có 01 tiền án (Tại Bản án số 10/2018/HSST ngày 19/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình đã xử phạt 15 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 05/5/2019, chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác trong bản án).

Nhân thân: Ngày 17/6/2002, bị Công an thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay là

quận Hà Đông, thành phố Hà Nội) đưa vào cơ sở giáo dục về hành vi “Trộm cắp tài sản công dân, Sử dụng ma túy”, chấp hành xong vào ngày 20/7/2004; Ngày 17/4/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 03 tháng 02 ngày tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 16/2015/HSST), đã được trả tự do ngay tại phiên tòa do đã chấp hành xong hình phạt tù, ngày 11/6/2015, chấp hành xong các quyết định khác trong bản án.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/11/2020 cho đến nay. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Chị Bùi Thị N, sinh năm 1985; Trú tại:

Thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, là vợ của bị cáo. Vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Nhật N- Luật sư Công ty Luật trách

nhiệm hữu hạn một thành viên Nhật N và Cộng sự thuộc Đoàn luật sư tỉnh Thừa Thiên Huế. Địa chỉ: Số 52, đường H, phường X, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1975. Trú tại: Tổ dân phố A1, thị trấn

L, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Anh V, sinh năm 1997. Trú tại: Tổ dân phố

A 1, thị trấn L, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 20/11/2020, Đặng Ngọc T đi đến nhà của

chịNguyễn Thị D ở tổ dân phố An Cư Đông 1, thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Lúc này, cổng chính nhà chị D không khóa,T nhìn thấy ở khu vực sân trong nhà có để xe mô tô hiệu Yamaha Sirius mang biển số 75K1-371.57, chìa khóa xe đang cắm ở ổ khóa xe nên nảy sinh ý định chiếm đoạt.T ngồi lên xe mô tô, mở khóa xe và điều khiển xe mô tô ra khỏi nhà chị D theo hướng đường Quốc Lộ 1A. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, con trai của chị D là anh Nguyễn Anh V phát hiện xe mô tô 75K1 - 371.57 bị mất nên trình báo cơ quan Công an.

Quá trình điều tra, đã thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ,

mang biển số 75K1 - 371.57.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 66 ngày 23/11/2020 của Hội đồng định

giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Lộc, kết luận xe mô tô 75K1 - 371.57 hiệu Yamaha Sirius (thời điểm tháng 11 năm 2020) có giá trị là 14.910.000 đồng.

Ngày 26/01/2021, Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Miền Trung đã ban

hành kết luận số: 107/KLGĐTC, kết luận về tình trạng tâm thần của bị cáo Đặng Ngọc T trước khi gây án, tại thời điểm gây án và hiện tại như sau: Về y học: Tâm thần phân liệt thể paranoidT triển liên tục (F20.00); Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSPL, ngày 16/3/2021 của Viện kiểm sát nhân

dân huyện Phú Lộc đã truy tố bị cáo Đặng Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị

áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm q, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Ngọc T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

- Người bào chữa cho bị cáo thống nhất tội danh và khung hình phạt áp dụng

như đề nghị của Viện kiểm sát, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm q, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù.

- Ý kiến và lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình

như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc đã truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an

huyện Phú Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xét hành vi của bị cáo Đặng Ngọc T thấy rằng: Khoảng 15 giờ 30 phút

ngày 20/11/2020, tại nhà của chịNguyễn Thị D ở tổ dân phố An Cư Đông 1, thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, bị cáo Đặng Ngọc T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô hiệu Yamaha Sirius thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị D đang để ở trong khu vực sân nhà. Kết quả định giá tài sản chiếm đoạt có giá trị là 14.900.000 đồng.

Với hành vi và giá trị tài sản chiếm đoạt nêu trên, bị cáo Đặng Ngọc T đã

phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 09/CT-VKSPL, ngày 16/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc truy tố bị cáo Đặng Ngọc T với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng,

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáoT là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà còn phạm tội nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Các tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại các điểm q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét các căn cứ quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Bị

cáoT là người có nhân thân xấu, hiện đang có 01 tiền án. Bị cáo đã nhiều lần bị kết án và bị đưa vào cơ sở giáo dục về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không cải tạo tốt mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Xét bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi

thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Phú Lộc đã

xử lý vật chứng trả lại xe mô tô 75K1 - 371.57 cho chủ sở hữu. Không ai có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của

pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Ngọc T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm q, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1

Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Ngọc T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp

hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam (Ngày 25/11/2020).

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Đặng Ngọc T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày,

kể từ ngày tuyên án. Đối với đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

- Sở tư pháp tỉnh;

- VKSND Phú Lộc;

- Chi cục THADS;

- Những người TGTT;

- Lưu hồ sơ

- Lưu án văn.

Phan Thị Xuân Huế

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TOÀ ÁN NHÂN DÂN H.PHÚ LỘC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:….. /2017/HSST-QĐTG

Phú Lộc, ngày 23 tháng 3 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Với thành phần Hội dồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Sang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đình Phú, cán bộ hưu trí. Địa chỉ: tổ dân phố 1, thị trấn Phú

Lộc, huyện Phú Lộc.

2. Ông Hồ Sỹ Định - Công tác tại: UNMT tổ quốc Việt Nam huyện Phú Lộc.

Căn cứ vào các Điều 79, 80, 88 và 228 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào biên bản nghị án ngày 23/3/2017 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án;

QUYẾT ĐỊNH:

Tạm giam bị cáo: Trần Như Cao, sinh ngày 12/10/1992 tại huyện Phú Lộc,

tỉnh Thừa Thiên Huế.

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn An Sơn, xã Lộc Sơn, huyện Phú

Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghề nghiệp: Không có nghề nghiệp ổn định.

Bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt ………. năm …..............tháng tù về tội

“Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

2. Nhà tạm giữ thuộc Cơ quan Công an huyện Phú Lộc có trách nhiệm thi

hành Quyết định này.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SỞ THẨM

Cỡ chữ