- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh D phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG P TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2021/HS-ST. Ngày: 06 – 4 - 2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG P, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Quyết Chiến
Ông Nguyễn Thanh Rực
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Hà Quang Duy – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2021/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Minh D, sinh ngày 02/3/1991; nơi sinh: Tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp Ngãi Hội 1, thị trấn Đại Ngãi, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Khỏe, sinh năm 1967 (sống) và bà Nguyễn Thị Muội, sinh năm 1969 (sống); tiền án: Có 01 tiền án về Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 bị Tòa án nhân dân huyện Long P xử phạt 01 năm tù, chấp hành xong ngày 10/01/2020; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2020 cho đến nay (có mặt).
- Bị hại:
+ Bà Lý Hoài P, sinh năm 1973; nơi cư trú: Ấp Bờ K, xã Hậu Th, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nhan Ngọc N, sinh năm 1970; nơi cư trú: Số 963/12/29, tổ 53, khu phố 4, phường P Thọ, thành phố Th, tỉnh Bình Dương(vắng mặt);
+ Ông Lê Hải P, sinh năm 1993; nơi cư trú: Ấp Ngãi H 1, thị trấn Đại N, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng (có mặt);
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
+ Ông Trần Huỳnh P, sinh năm 1995; nơi cư trú: Ấp Bờ K, xã Hậu Th, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
+ Ông Huỳnh L, sinh năm 2000; nơi cư trú: Ấp Bờ K, xã Hậu Th, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
Người chứng kiến: Ông Tô Văn H, sinh năm 1959; nơi cư trú: Ấp Bờ K, xã Hậu Th, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo là đối tượng có sử dụng trái phép chất ma túy, không có nghề nghiệp Vào sáng ngày 09/10/2020, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 61L4-9149 chở Lê Hải Phòng đi thành phố Sóc Trăng, sau đó bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 61L4-9149 chở Phòng quay về và đi trên Quốc lộ 60, đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi bị cáo và Phòng đi đến khu vực ấp Bờ Kinh, xã Hậu Thạnh thì bị cáo phát hiện nhà bà P khóa cửa bên ngoài nên bị cáo nảy sinh ý định đột nhập để lấy trộm tài sản, bị cáo quay xe lại dừng trước nhà bà P, sau đó bị cáo xuống xe và mở cốp xe lấy 01 cây cưa cầm tay bằng kim loại màu đỏ, sau đó Phòng chạy xe đi, còn bị cáo cầm cây cưa đi vào bên hông nhà bà P, bị cáo tháo 01 cánh cửa sổ ra và để xuống đất, sau đó bị cáo dùng cưa để cưa thanh kim loại cửa sổ và dùng tay giật thanh kim loại cửa sổ ra, Dư trèo vào nhà bà P để tìm tài sản và lấy trộm được 01 laptop nhãn hiệu Dell, 03 cây kéo, 01 cây dao cạo, 01 tông đơ, 01 máy cà móng, 01 giỏ xách và số tiền 250.000 đồng. Khi bị cáo đang trèo ra ngoài thì bị lực lượng công an phát hiện, truy đuổi, bắt quả tang và giữ vật chứng của vụ án.
Tại kết luận định giá tài sản số 23/KL.HĐĐGTS ngày 12/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Uỷ ban nhân dân huyện Long P kết luận: 01 laptop nhãn hiệu Dell model NoPP38L, trên laptop có chữ Vostro, laptop màu đen, có giá trị: 1.100.000 đồng; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng sáng, trên kéo có chữ AIK60 COBALT có giá trị 30.000 đồng; 01 cây kéo bằng kim loại màu đen, lưỡi màu trắng sáng, trên kéo có chữ JIANDINZU có giá trị 720.000 đồng; 01 cây kéo bằng kim loại màu đen, trên kéo có chữ TONI & GUY có giá trị 30.000 đồng; 01 cây dao cạo không có hiệu, có giá trị 20.000 đồng; 01 giỏ xách màu nâu, quai màu đỏ có giá trị 100.000 đồng; 01 tông đơ màu trắng đen, trên tông đơ có chữ RFCD-9100 có giá trị 240.000 đồng; 01 máy cà móng model Portable grinding machine có giá trị 150.000 đồng. Tổng cộng số tiền định giá: 2.390.000 đồng.
Tại cáo trạng số: 01/CT-VKS-LP ngày 10/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm s, h khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù; Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên đề nghị không đặt ra xem xét; Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu và tiêu hủy: 01 thanh kim loại màu trắng sáng, dài 53cm, bè hoành 05cm; 01 cây cưa cầm tay màu đỏ
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Thống nhất với kết luận định giá tài sản số 23/KL.HĐĐGTS ngày 12/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Uỷ ban nhân dân huyện Long P. Tại lời nói sau cùng bị cáo không có ý kiến gì.
Trong quá trình điều tra và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt bị hại bà Lý Hoài P xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Long Phú, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt bị hại Lý Hoài P; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nhan Ngọc N; người làm chứng Huỳnh P, Huỳnh L, Tô Văn H; người chứng kiến Tô Văn H. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hải Phòng không yêu cầu hoãn phiên tòa. Căn cứ vào Điều 292, 293 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai rõ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan Điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Kết luận định giá tài sản số 23/KL.HĐĐGTS ngày 12/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Uỷ ban nhân dân huyện Long P; hiện trường vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cụ thể: Do muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên vào ngày 09/10/2020 bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 laptop nhãn hiệu Dell model NoPP38L, trên laptop có chữ Vostro, laptop màu đen, có giá trị: 1.100.000 đồng; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng sáng, trên kéo có chữ AIK60 COBALT có giá trị 30.000 đồng; 01 cây kéo bằng kim loại màu đen, lưỡi màu trắng sáng, trên kéo có chữ JIANDINZU có giá trị 720.000 đồng; 01 cây kéo bằng kim loại màu đen, trên kéo có chữ TONI & GUY có giá trị 30.000 đồng; 01 cây dao cạo không có hiệu, có giá trị 20.000 đồng; 01 giỏ xách màu nâu, quai màu đỏ có giá trị 100.000 đồng; 01 tông đơ màu trắng đen, trên tông đơ có chữ RFCD-9100 có giá trị 240.000 đồng; 01 máy cà móng model Portable grinding machine có giá trị 150.000 đồng; số tiền 250.000 đồng của bị hại. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt được là 2.640.000 đồng (Hai triệu, sáu trăm bốn mươi ngàn đồng). Bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại có giá trị 2.640.000 đồng mà bị cáo đã thực hiện phạm vào tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Do đó, cáo trạng số 01/CT-VKS-LP ngày 10/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện với ý thức là cố ý. Bị cáo biết khi thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt chiếm đoạt 01 laptop nhãn hiệu Dell model NoPP38L, trên laptop có chữ Vostro, laptop màu đen, có giá trị: 1.100.000 đồng; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng sáng, trên kéo có chữ AIK60 COBALT có giá trị 30.000 đồng; 01 cây kéo bằng kim loại màu đen, lưỡi màu trắng sáng, trên kéo có chữ JIANDINZU có giá trị 720.000 đồng; 01 cây kéo bằng kim loại màu đen, trên kéo có chữ TONI & GUY có giá trị 30.000 đồng; 01 cây dao cạo không có hiệu, có giá trị 20.000 đồng; 01 giỏ xách màu nâu, quai màu đỏ có giá trị 100.000 đồng; 01 tông đơ màu trắng đen, trên tông đơ có chữ RFCD-9100 có giá trị 240.000 đồng; 01 máy cà móng model Portable grinding machine có giá trị 150.000 đồng; số tiền 250.000 đồng của bị hại. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt được là 2.640.000 đồng (Hai triệu, sáu trăm bốn mươi ngàn đồng) thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị hại và luôn được pháp luật bảo vệ trước mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật nhưng chỉ muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo có hành vi chiếm đoạt tài sản trên.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, nó trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân một cách trái pháp luật; đồng thời hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa P. Cho nên, đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian để bị cáo có thời gian tâm đắc sửa chữa lỗi lầm, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích, góp phần phòng chống tội phạm chung cho toàn xã hội.
Để có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo nên Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo có 01 tình tiết tặng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) vì bị cáo có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, ngày 12/4/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 (bản án số 09), chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/01/2020, đến ngày 09/10/2020 thì tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản. Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 thì bị cáo chưa được xóa án tích. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tôi gây thiệt hại không lớn và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s, h khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long P đã trả lại: 01 laptop nhãn hiệu Dell model NoPP38L, trên laptop có chữ Vostro, laptop màu đen; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng sáng, trên kéo có chữ AIK60 COBALT; 01 cây kéo bằng kim loại màu đen, lưỡi màu trắng sáng, trên kéo có chữ JIANDINZU; 01 cây kéo bằng kim loại màu đen, trên kéo có chữ TONI & GUY; 01 cây dao cạo không có hiệu; 01 giỏ xách màu nâu, quai màu đỏ; 01 tông đơ màu trắng đen, trên tông đơ có chữ RFCD-9100; 01 máy cà móng model Portable grinding machine; số tiền 250.000 đồng (gồm 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng; 05 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng cho chủ sở hữu là bị hại; Đối với 01 xe mô tô biển số 61L4-9149 và số tiền 154.000 đồng (gồm 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng; 04 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng; 11 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 5.000 đồng; 15 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2.000 đồng; 09 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng) đã trả cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Long P đã thu giữ: 01 thanh kim loại màu trắng sáng, dài 53cm, bè hoành 05cm; 01 cây cưa cầm tay màu đỏ. Xét thấy, đối chiếu với điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cần tịch thu và tiêu hủy những vật chứng nêu trên là có căn cứ
Đối với Lê Hải Phòng là người đi chung xe với bị cáo. Tòa án nhân dân huyện Long P ra Quyết định trả điều tra bổ sung số 01/2021/HSST – QĐ ngày 08/01/2021 để điều tra bổ sung: Làm rõ vai trò đồng phạm của Lê Hải Phòng trong vụ án và qua quá trình điều tra không chứng minh được việc bị cáo xuống xe và đi trộm cắp tài sản thì Phòng không biết. Nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long P không xử lý đối với Phòng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với việc bị cáo dùng cưa để cưa thanh kim loại cửa sổ nhà bị hại, do bị hại không yêu cầu định giá, không yêu cầu bồi thường và không yêu cầu xử lý nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long P không xử lý bị cáo về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, về hình phạt, việc áp dụng pháp luật, xử lý vật chứng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh D phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38; điểm s, h khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 09/10/2020.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu và tiêu hủy: 01 thanh kim loại màu trắng sáng, dài 53cm, bè hoành 05cm; 01 cây cưa cầm tay màu đỏ
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người liên quan; - VKSND huyện Long P; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - CQĐT CA huyện Long P; - Cơ quan THAHS CA huyện Long P; - Nhà tạm giữ CA huyện Long P; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Thanh Hoa |