- Tranh chấp gì? án hình sự — "BÙI VĂN TH PHẠM TỘI TRỘM CẮP TS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Bùi Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2021/HS-ST Ngày: 16/3/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Bùi Văn Chương.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thanh Nông – Cán bộ hưu trí thị trấn B, huyện Kim Bôi; Ông Quách Ngọc Ánh – Phó hiệu trưởng trường TH&THCS Kim Bình, thị trấn B, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Mạnh Thuyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi tham gia phiên toà: Bà Bùi Thanh Lương - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2021/HSST ngày 05/02/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2021/HSST- QĐ, ngày 05 tháng 3 năm 2021 đối với:
* Bị cáo: BÙI VĂN TH, tên gọi khác: Không, sinh năm 2001, Nơi cư trú: xóm K, xã X, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn Thượi, sinh năm 1976, con bà: Bùi Thị Bằng, sinh năm 1976; Vợ; Con: chưa có.
Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: ông Nguyễn Đình Huy- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hòa Bình, có mặt.
* Người bị hại: cháu Lê Mạnh Th, sinh ngày 22 tháng 7 năm 2004 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt); Người đại diện hợp pháp của bị hại: bà Nguyễn Thùy Nh, sinh năm 1983. Đều trú tại: xóm S, xã V, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình,có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Bùi Minh Kh, sinh ngày 09/12/2008. Người giám hộ bà Bùi Thị Anh, sinh năm 1984 (mẹ đẻ). Đều trú tại: xóm K, xã X, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Anh Bùi Văn Q, sinh năm 1998. Trú tại: Khu M, thị trấn B, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.
* Người làm chứng:
- Anh Ngô Văn Huy, sinh năm 1978. Trú tại: khu M, thị trấn B, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.Vắng mặt.
- Anh Bùi Văn Dựng, sinh năm 1984. Trú tại: xóm S, xã V, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Anh Bùi Hoàng Duy, sinh năm 2004. Trú tại: khu M, thị trấn B, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 10/09/2020 cháu Lê Mạnh Th trên đường đi học điều khiển chiếc xe máy điện nhãn hiệu ESPRO, màu sơn đỏ BKS: 28MĐ6- 008.97 của mình đến nhà bạn là Bùi Văn V tại khu M, thị trấn B. Tại đây cháu Th có cho bạn là Bùi Hoàng D mượn chiếc xe máy điện còn mình thì đi học cùng V bằng xe máy của V. Bùi Hoàng D đã dùng chiếc xe máy điện mượn được đi đến quán Internet của anh Nguyễn Công T, địa chỉ tại khu Bo, thị trấn B. Đến nơi Duy rút chìa khóa xe máy điện, dựng xe ở trước cửa quán và vào trong để chơi điện tử.
Khoảng 14 giờ cùng ngày, Bùi Văn Th điều khiển xe mô tô BKS: 28S6- 9629 từ nhà đi đến khu vực trước quán nhà chị Hảo, cạnh trường cấp 2 Thượng Bì, thuộc xã X, huyện Kim Bôi thì gặp cháu Bùi Minh Kh đang ngồi chơi trong quán, Th rủ cháu Kh đi chơi điện tử, cháu Kh đồng ý. Th chở cháu Kh đi đến quán Internet của anh Nguyễn Công T tại khu Bo, thị trấn B chơi điện tử đến khoảng 16 giờ cùng ngày Th rủ cháu Kh đi về. Khi từ trong quán đi ra, Th nhìn thấy 01 chùm chìa khóa gồm: 01 chiếc chìa khóa cơ và 01 chìa khóa điện tử để trên bàn nước trước cửa quán, ngoài sân có 01 chiếc xe máy điện màu đỏ BKS: 28MĐ6- 008.97 đang dựng. Nhìn quanh, không thấy ai để ý, Th liền nảy sinh ý định trộm chiếc xe máy điện đó để trả tiền sửa xe máy và có tiền ăn tiêu cá nhân. Th đã lấy chùm chìa khóa trên mặt bàn nước cho vào túi quần rồi cho vào cốp chiếc xe máy BKS: 28S6- 9629, điều khiển chở cháu Kh ra đầu ngõ cách quán Internet của anh T khoảng 50 m thì dừng lại và nói với cháu Kh “Muốn tiền không”, cháu Kh đáp “Tiền đâu mà muốn”, Th bảo cháu Kh “Đợi một lúc” rồi một mình quay lại quán. Th lén lút dùng chiếc chìa khóa xe vừa trộm được lúc trước ngoáy và mở được khóa chiếc xe máy điện 28MĐ6- 008.97 sau đó dắt xe ăn trộm được đi ra chỗ cháu Kh. Th bảo cháu Kh điểu khiển chiếc xe máy điện này đi bán, cháu Kh đồng ý. Sau đó, Th điều khiển chiếc xe mô tô BKS: 28S6- 9629 đi trước cháu Kh đi xe máy điện trộm được đi sau. Khi đi đến khu M, thị trấn B xe máy điện Th trộm cắp được hết điện, Th và cháu Kh phải đi vào nhà một người dân gần đường để xin dây thừng, rồi dùng dây thừng buộc từ xe mô tô do Th điều khiển để kéo chiếc xe máy điện do cháu Kh điều khiển. Th và cháu Kh đi đến một số cửa hàng sửa chữa xe máy để hỏi bán nhưng không có ai mua. Sau đó, cháu Kh dắt xe máy điện đến quán của anh Ngô Văn H tại xóm S, xã V. Th ở ngoài đợi ở cửa quán bảo cháu Kh mang xe vào quán để bán nhưng anh H không mua, cháu Kh đi ra nói lại với Th là không bán được. Do không bán được xe máy điện, Th một mình điều khiển xe mô tô bỏ đi về nhà, còn cháu Kh vẫn ở quán anh H cùng với chiếc xe máy điện. Lúc này anh H nghi ngờ chiếc xe mà cháu Kh hỏi bán là xe cháu Th (nhà cạnh nhà anh H) nên thông báo với gia đình cháu Th. Anh Bùi Văn D (bố dượng cháu Th) và chị Nguyễn Thùy Nh (mẹ cháu Th) mang giấy tờ sang và xác nhận chiếc xe máy điện trên của cháu Th, liên lạc với cháu Th đang đi học thì được biết chiếc xe máy điện bị mất trộm trước đó. Chị Nh và cháu Th đến Công an Kim Bôi trình báo sự việc bị mất trộm, anh D giữ lại chiếc xe máy điện bàn giao tang vật cùng đối tượng Bùi Minh Kh cho Cơ quan Công an huyện Kim Bôi giải quyết.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Bôi đã tiến hành yêu cầu định giá tài sản đối với xe máy điện điện BKS: 28MĐ6- 008.97. Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 40/KL- HĐĐGTS ngày 25 tháng 9 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện Kim Bôi kết luận: Chiếc xe máy điện nhãn hiệu ESPRO, BKS: 28MĐ6- 008.97, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng).
Quá trình điều tra xác minh, Cơ quan điều tra xét thấy Bùi Văn Th có biểu hiện hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Cụ thể Th có thể nghe, trả lời các câu hỏi của Cơ quan điều tra nhưng khả năng giao tiếp, di chuyển chậm, mau quên, Th không biết đọc, viết, ngoài ra không biết diễn đạt hành vi diễn ra một cách rành mạch. Vì vậy, ngày 22/10/020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Bôi ra quyết định trưng cầu Viện pháp y tâm thần Trung ương giám định tâm thần đối với Bùi Văn Th. Tại bản giám định pháp y tâm thần số: 484/KLGĐ ngày 29/12/2020 của Viện pháp y tâm thần trung ương, kết luận: “Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản ngày 10/9/2020 và tại thời điểm giám định, bị can Bùi Văn Th bị bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F70. Tại các thời điểm trên bị can hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
Về các vật chứng của vụ án:
+ 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu ESPRO, BKS: 28MĐ6- 008.97, số máy YD500W267075, số khung DPEHA267075 là chiếc xe của cháu Lê Mạnh Th. Xét thấy không ảnh hưởng tới quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho cháu Lê Mạnh Th.
+ 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS: 28S6- 9626, kèm theo 01 chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Honda. Xác định chủ sở hữu là Bùi Văn Q là chủ cửa hàng sửa xe máy tại Khu S, thị trấn B. Trước đó, Bùi Văn Th có mang chiếc xe mô tô của gia đình đến quán của anh Q để sửa chữa. Trong thời gian chờ sửa, anh Q có cho Th mượn chiếc xe mô tô BKS: 28S6- 9626 để làm phương tiện đi lại. Bùi Văn Q không biết Th đi trộm cắp tài sản và dùng chiếc xe phục vụ cho việc đi tiêu thụ tài sản. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe BKS: 28S6- 9626 cho anh Bùi Văn Q.
+ 01 (một) bộ chìa khóa gồm 01 chìa khóa cơ và 01 chìa khóa điện tử, Bùi Văn Th lấy ở bàn uống nước tại quán Internet của anh Nguyễn Công T để mở khóa, lấy trộm chiếc xe máy điện của cháu Lê Mạnh Th hiện chưa xác định được chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã xác minh tại quán Internet của Nguyễn Công T và thông báo đến công an các xã trên địa bàn huyện Kim Bôi, thông tin rộng rãi đến quần chúng nhân dân nhưng chưa có ai thông báo bị mất trộm; 02 đoạn dây thừng được nối với nhau có chiều dài 4,28m, trong đó đoạn màu trắng dài 92cm, đường kính rộng 0,6cm; đoạn dây thừng màu nâu đỏ dài 3,36, đường kính rộng 0,8cm. Bùi Văn Th đã xin được của người dân khi xe máy điện trộm được hết điện, cần dùng để kéo xe đạp điện. Hiện bộ chìa khóa trên đang được lưu tại kho Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Bôi
+ 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Bùi Văn Th. Xét thấy đây là giấy tờ cá nhân. Sau khi phục vụ việc xác minh, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Bùi Văn Th.
Bản cáo trạng số: 07/CT- VKSKB ngày 04/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo Bùi Văn Thvề tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện VKSND huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, q, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 BLHS xử phạt Bùi Văn Th từ 24 (hai mươi bốn) đến 30 (ba mươi) tháng cải tạo không giam giữ. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên đề nghị HĐXX không xem xét. Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị bệnh hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, q, s khoản 1, Điều 51Bộ luật hình sự. Đề nghị tuyên phạt bị cáo 24 (hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Bị cáo Bùi Văn Th nhất trí nội dung bản luận tội của Viện kiểm sát cũng như với lời bào chữa cho bị cáo của trợ giúp viên pháp lý, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm. Lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụngtại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra công an huyện Kim Bôi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhân: Khoảng 16 giờ ngày 10/9/2020, tại quán Internet của anh Nguyễn Công T có địa chỉ ở khu B, thị trấn B, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, Bùi Văn Th lợi dụng sơ hở lén lút trộm cắp chiếc xe máy điện nhãn hiệu ESPRO, BKS: 28MĐ6- 008.97 của cháu Lê Mạnh Th trị giá 4.000.000đ (bốn triệu đồng). Sau đó Bùi Văn Th và cháu Bùi Minh Kh đi tiêu thụ chiếc xe thì bị bắt giữ. Do vậy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi truy tố bị cáo Bùi Văn Th về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo tuy là người hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, tuy nhiên bị cáo có tuổi đời còn trẻ, có sức khoẻ, đáng lẽ phải tự lao động để tạo nguồn thu nhập cho cuộc sống của mình và gia đình. Nhưng do không chịu tu dưỡng, rèn luyện, muốn hưởng thụ nhưng lại không chịu lao động nên đã dấn thân vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử buộc phải chịu hình phạt là cần thiết. Do đó cần phải có đường lối xử lý tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Đối với cháu Bùi Minh Kh, sinh ngày 09/12/2008 sau khi Bùi Văn Th trộm cắp được xe máy điện từ trong quán anh Tình, cháu Kh tiếp nhận ý trí và trực tiếp điều khiển chiếc xe này đem đi tiêu thụ do vậy cháu Kh là đồng phạm cùng với Th. Tuy nhiên tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội cháu Bùi Minh Kh mới 11 tuổi 8 tháng 10 ngày chưa đủ tuổi để chịu trách nhiệm hình sự hoặc xử lý hành chính. Do vậy Cơ quan điều tra đã giao cho gia đình quản lý, giáo dục là phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra bị cáo vai tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Đây được coi là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để hội đồng xét xử có thể xem xét áp dụng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Từ những phân tích trên, HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đờ i sống xã hô ̣i, mà cho bị cáo hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ để bị cáo yên tâm cải tạo, giáo dục tại địa phương trở thành ngườ i có ích cho xã hô ̣i . Việc cho bị cáo hưởng cải tạo không giam giữ cũng không gây nguy hại cho xã hô ̣i, không ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng chống tô ̣i phạm mà vẫn đảm bảo được sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thờ i thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước đối với ngườ i phạm tội biết ăn năn hối cải.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo: Bùi Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt bị Bùi Văn Th 24 (hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo Bùi Văn Th cho UBND xã X, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã X trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên HĐXX không xem xét.
4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu xuất hủy:
+ 01 (một) bộ chìa khóa gồm 01 chìa khóa cơ và 01 chìa khóa điện tử.
+ 02 đoạn dây thừng được nối với nhau có chiều dài 4,28m, trong đó đoạn màu trắng dài 92cm, đường kính rộng 0,6cm; đoạn dây thừng màu nâu đỏ dài 3,36m, đường kính rộng 0,8cm.
(Có tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/02/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bôi).
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Bùi Văn Th phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - VKSND H.Kim Bôi; - Công an H.Kim Bôi; - THA Hình sự (02 bản); - Chi cục THADS H.Kim Bôi; - Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình; - UBND xã X; - Bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo; - Người hợp pháp cho bị hại; người bị hại; - Lưu HS + VT | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Chƣơng |