- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Phàng Thị G và anh Sồng A Th ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phàng Thị Gvà anh Sồng A Th.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 18 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2021/HNGĐ- ST Ngày 16 - 6 - 2021 V/v Ly hôn giữa chị Giông và anh Tháng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tân Việt Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Công Ó 2. Bà Lý Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Ngọc – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hân-Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2021 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 125/2021/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2021 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2021/QĐXX-ST ngày 28 tháng 5 năm 2021giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phàng Thị G(tên gọi khác là Phàng Thị Dung), sinh năm 1978; nơi cư trú: bản Suối Pa, xã Kim Bon, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (có mặt).
2. Bị đơn: Anh Sồng A Th (tên gọi khác là Sồng A Thắng), sinh năm 1978; nơi cư trú: bản Suối Pa, xã Kim Bon, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 5 năm 2021 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Phàng Thị Gtrình bày: Chị Giông và anh Tháng xác lập quan hệ vợ chồng từ năm 1991, trên cơ sở tự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn. Đến năm 2004, mới đi đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã Kim Bon, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La cấp Giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Vợ chồng sống chung hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa hai vợ chồng do bất đồng về quan điểm sống, anh Tháng ham chơi, thường xuyên uống rượu say rồi đánh chửi vợ con. Chị Giông cho rằng, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là trầm trọng, không thể giải hoà, tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh Tháng.
Về con chung, vợ chồng sinh được hai người con chung là cháu Sồng Thị Tông, sinh năm 1995, cháu Sồng A Vừ, sinh năm 1997 và cháu Sồng A Vàng, sinh năm 1999. Các cháu hiện đã thành niên, đủ 18 tuổi, chị Giông không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung chị Giông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Sồng A Th thống nhất với lời khai của chị Giông về diễn biến quan hệ hôn nhân và con chung. Về tài sản chung, tài sản riêng và nợ chung anh Tháng xác nhận lời trình bày của chị Giông là đúng, anh Tháng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, về yêu cầu ly hôn của chị Giông, anh Tháng cho rằng mâu thuẫn vợ chồng là chưa trầm trọng nên không nhất trí ly hôn mà đề nghị được đoàn tụ.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa. Về tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng. Về nội dung, đề nghị áp dụng các Điều 17, 18, 19, khoản 1 Điều 56 và Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc xin ly hôn anh Sồng A Th. Về chia tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí, chị Giông phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng, căn cứ Đơn khởi kiện và các lời khai của đương sự thì Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án, cả hai bên đương sự đều cư trú tại huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Sau khi Tòa án tiến hành hòa giải giữa các đương sự nhưng không thành nên đã đưa vụ án ra xét xử công khai theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2021/QĐXX-ST ngày 28 tháng 5 năm 2021.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân, chị Phàng Thị Gvà anh Sồng A Th xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quan hệ hôn nhân giữa chị Phàng Thị Gvà anh Sồng A Th được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp kể từ ngày 23 tháng 5 năm 2004 (ngày đăng ký kết hôn).
Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do quan điểm sống giữa vợ và chồng có nhiều khác biệt, vợ chồng không tin tưởng nhau. Do mâu thuẫn giữa hai vợ chồng nên chị Giông và anh Tháng đã sống ly thân từ cuối năm 2020 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh đã lâu nhưng chị Giông và anh Tháng đều không có giải pháp phù hợp để hàn gắn mâu thuẫn. Vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, tình cảm vợ chồng không còn; tình trạng hôn nhân là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Căn cứ vào Điều 19, Điều 21, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Giông. Không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu đoàn tụ của anh Tháng.
Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, chị Giông và anh Tháng không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 17, 18, 19 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phàng Thị Gvà anh Sồng A Th.
2. Về án phí: Chị Phàng Thị Gphải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí chị Giông đã nộp theo biên lai thu số: 0828 ngày 10 tháng 5 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Phàng Thị Gvà anh Sồng A Th có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/6/2021).
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát Phù Yên; - Toà án tỉnh; - Chi cục THA dân sự Phù Yên; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Hoàng Tân Việt THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |