- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2021/HNGĐ-ST Ngày 15/7/2021 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG, TỈNH HÒA BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Thịnh.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và bà Hoàng Thị Phương Lan.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Duy.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 42/2021/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2021 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/QĐXX - ST ngày 14 tháng 6 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05 ngày 29/6/2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị T - Sinh năm 1999 (có mặt);
Bị đơn: Anh Trần Quang L - Sinh năm 1997 (vắng mặt không có lý do);
Cùng cư trú tại: Xóm Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 22/4/2021, ý kiến tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Tính trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Quang L chung sống vợ chồng từ năm 2016, và có đăng ký kết hôn ngày 27/11/2020 tại Ủy ban nhân dân TT Cao Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn chị Tính và anh L về sống tại Xóm Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hòa Bình. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh L ham chơi, rượu chè, cờ bạc, nợ nần, bán hết đồ đạc, còn có hành vi bạo lực gia đình, không quan tâm đến vợ con, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 01 năm 2021 cho đến nay không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Nay chị Tính xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn gia đình trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Quang L.
Về con chung: Chị Tính và anh L có 01 con chung là Trần Khả Vy sinh ngày 10/9/2017. Hiện tại cháu đang ở với chị Tính, sức khoẻ của cháu tốt, phát triển bình thường. Khi ly hôn chị Tính có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, lý do vì cháu sống với chị từ nhỏ, do chị trực tiếp chăm sóc, anh L thường xuyên vắng nhà không quan tâm gì đến con nên không đảm bảo được việc nuôi con. Chị Tính chưa đề nghị anh L cấp dưỡng tiền nuôi con sau khi ly hôn.
Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2]. Trong quá trình giải quyết vụ án anh Trần Quang L thường không có mặt tại địa phương, Toà án đã tiến hành xác minh được biết anh L đi đâu không khai báo với chính quyền địa phương, tuy nhiên anh L vẫn về nhà và có nhắn tin và gọi điện qua điện thoại với chị Tính nhưng không cho chị Tính biết địa chỉ anh đang ở đâu. Xét thấy đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ nên Toà án vẫn tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung. Toà án đã thực hiện thủ tục cấp tống đạt và niêm yết công khai văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh L vẫn cố tình không đến Tòa án làm việc theo Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nên Toà án không thể ghi nhận được lời khai của anh L.
Ông Nguyễn Đức Trịnh, trưởng Xóm Đỉnh Cun, xã Thu Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình xác nhận: Theo ông được biết cũng như thông tin hàng xóm của gia đình chị Tính và anh L phản ánh anh L dính vào cờ bạc, liên quan đến xã hội đen, không quan tâm đến vợ con, bỏ đi làm ở đâu không cho ai biết dẫn đến mâu thuẫn ngày càng lớn. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân, anh L vẫn có hộ khẩu tại địa phương nhưng anh L đi đâu làm gì không rõ, nhưng có về nhà rồi lại đi.
[3]. Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Đỗ Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Trần Quang L; khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con Trần Khả Vy, chị chưa đề nghị anh L cấp dưỡng tiền nuôi con sau khi ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Từ khi thu lý đến khi xét xử, Toà án đã tuân thủ đúng các quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ và đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đầy đủ và đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng, cố tình trốn tránh khi Tòa giải quyết ly hôn.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56, 58 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Đỗ Thị T được ly hôn với anh Trần Quang L. Về con chung: Giao cho chị Tính trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Khả Vy đến khi cháu cháu Vy đủ 18 tuổi. Chị Tính chưa yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Tính xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên dề nghị HĐXX không đề cập giải quyết.
Về án phí: Chị Tính phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Xét thấy chị Đỗ Thị T khởi kiện anh Trần Quang L là vụ án dân sự tranh chấp “ ly hôn”, căn cứ vào sổ hộ khẩu gia đình anh L có nơi cư trú tại Xóm Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hòa Bình. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Phong.
Tại phiên tòa ngày 29/6/2021, nguyên đơn chị Đỗ Thị T có mặt, bị đơn anh Trần Quang L vắng mặt không có lý do lần thứ nhất, nên HĐXX hoãn phiên tòa xét xử vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Trần Quang L tiếp tục vắng mặt không có lý do lần thứ 2. Vì vậy căn cứ vào Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 BLTTDS và theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong là đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật. Nên HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 48, ngày 27/11/2020, do UBND TT trấn Cao Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình cấp, xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Đỗ Thị T và anh Trần Quang L là hợp pháp. Trong quá chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân xuất phát từ việc anh L ham chơi, dính vào cờ bạc, không chăm lo gia đình, không chịu lao động, không quan tâm đến vợ con, quan điểm sống không hợp nhau dẫn đến mâu thuẫn, cãi vã, xúc phạm danh dự nhân phẩm của nhau, có hành vi bạo lực gia đình, hiện tại chị Tính và anh L sống ly thân đã lâu, cả hai không còn quan tâm gì đến cuộc sống, sinh hoạt của nhau đúng như chị Tính đã trình bày. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh L đến Tòa để hòa giải đoàn tụ nhưng anh L cố tình vắng mặt. HĐXX xét thấy: Hôn nhân giữa chị Tính và anh L đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Đỗ Thị T.
. Về con chung: Xác định chị Đỗ Thị T và anh Trần Quang L có 01 con chung là Trần Khả Vy sinh ngày 10/9/2017. Khi ly hôn chị Tính có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và chưa đề nghị anh L cấp dưỡng tiền nuôi con sau khi ly hôn. Xét nguyện vọng của chị Tính HĐXX xét thấy có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Tính, giao cho chị Đỗ Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Khả Vy, sinh ngày 10/9/2017 cho đến khi cháu Vy đủ 18 tuổi. Chị Tính chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên anh L chưa phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con.
. Về tài sản chung: Chị Đỗ Thị T xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết. Nên HĐXX không xem xét giải quyết.
. Về công nợ chung: Chị Tính xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết. Nên HĐXX không xem xét.
Anh Trần Quang L vắng mặt không có lời khai về tài sản chung và công nợ chung nên HĐXX không xem xét.
. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chị Đỗ Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị T được ly hôn với anh Trần Quang L.
2.Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Khả Vy, sinh ngày 10/9/2017 cho đến khi cháu Vy đủ 18 tuổi. Anh Trần Quang L chưa phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Hai bên có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai có quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.
Vì quyền lợi về mọi mặt của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
3.Về án phí: Chị Đỗ Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được đối trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0001616, ngày 22 tháng 4 năm 2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình.
4.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết hợp lệ. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- VKSND tỉnh Hòa Bình;
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
- TAND tỉnh Hòa Bình;
- VKSND huyện Cao Phong;
- THADS huyện Cao Phong;
- UBND TT Cao Phong;
- UBND xã Thu Phong;
Trần Đức Thịnh
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Đức Thịnh
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hòa Bình; - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Cao Phong; - THADS huyện Cao Phong; - UBND xã Thu Phong; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Đức Thịnh |