vanban.org

Bản án 08/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc M về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo các hợp đồng cho vay tiền đề ngày 14/3/2018 và ngày 24/9/2019.

Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc M có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị Kim L số tiền nợ gốc 810.000.000 (tám trăm mười triệu) đồng. Về án phí dân sự sơ thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc M về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc M về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo các hợp đồng cho vay tiền đề ngày 14/3/2018 và ngày 24/9/2019.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2021/DS-ST
Ngày: 26-3-2021
V/v tranh chấp hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thắm;

2. Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương: tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 404/2020/TLST-DS ngày 17 tháng 11 năm 2020 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2021/QĐXXST-DS, ngày 22 tháng 02 năm 2021, và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2021/QĐST-DS ngày 10 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1981; địa chỉ: Số 117/5, đường Đ, khu phố 1, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1977; địa chỉ: Khu phố 1, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 05/8/2020 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L trình bày:

Xuất phát từ mối quan hệ bạn bè, vào ngày 14/3/2018, nguyên đơn có cho bà M vay số tiền 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng. Theo nội dung hợp đồng cho vay tiền giữa nguyên đơn và bà M có thỏa thuận thời hạn vay là 24 tháng kể từ ngày 14/3/2018 đến ngày 14/3/2020, thỏa thuận lãi suất cho vay là 0,1%/tháng, tiền lãi được trả hàng tháng đúng vào ngày thứ 30 tính từ ngày cho vay, trong thời hạn hợp đồng có hiệu lực không thay đổi mức lãi suất cho vay đã thỏa thuận trong hợp đồng, ngoài ra trong hợp đồng còn quy định biện pháp bảo đảm hợp đồng (Điều 4), hiệu lực hợp đồng (Điều 5). Ngày 24/9/2019, bị đơn vay của nguyên đơn số tiền 660.000.000 (sáu trăm sáu mươi triệu) đồng và được ghi bằng 03 hợp đồng cho vay tiền khác nhau và đều ghi ngày 24/9/2019. Theo nội dung hợp đồng cho vay tiền giữa nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận thời hạn vay là 6 tháng kể từ ngày 24/9/2019 đến ngày 24/3/2020, thỏa thuận lãi suất cho vay là 0,6%/tháng. Trong thời hạn hợp đồng có hiệu lực không thay đổi mức lãi suất cho vay đã thỏa thuận trong hợp đồng, ngoài ra trong hợp đồng còn quy định biện pháp bảo đảm hợp đồng (Điều 4), hiệu lực hợp đồng (Điều 5). Các hợp đồng cho vay tiền trên hai bên chỉ lập giấy tay về việc cho vay tiền chứ không được công chứng, chứng thực tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Quá trình thực hiện hợp đồng bà M có trả cho nguyên đơn tiền lãi đến tháng 01/2020 thì bà M không trả cho nguyên đơn bất cứ một khoản lãi nào nữa. Tổng số tiền Bà M đã vay của nguyên đơn theo các hợp đồng cho vay tiền ngày 14/3/2018 và ngày 24/9/20190 là 810.000.000 (tám trăm mười triệu) đồng. Nguyên đơn đã nhiều lần liên hệ với bà M yêu cầu bà M trả số tiền trên, bà M hẹn đến ngày 14/3/2020 sẽ trả cho nguyên đơn số tiền đã vay tuy nhiên đến ngày 14/3/2020 bà M vẫn không chịu trả số tiền trên cho nguyên đơn. Vì vậy nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà M phải trả cho nguyên đơn số tiền đã vay là 810.000.000 (tám trăm mười triệu) đồng, nguyên đơn không yêu cầu tiền lãi.

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc M: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tống đạt niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm cho bà M theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, bị đơn không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không có đơn yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Đối với bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua ý kiến phát biểu của đại diện iện kiểm sát, ội đồng t ử nhận định:

. Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim L là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc M có địa chỉ thường trú tại khu phố 1, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L có đơn in vắng mặt, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc M vắng mặt không có lý do nên căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

. Về nội dung: Xét yêu cầu của nguyên đơn bà L buộc bị đơn bà M phải trả số tiền gốc đã vay theo hợp đồng cho vay tiền ngày 14/3/2018 với số tiền vay là 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng và ngày 24/9/2019 với số tiền vay là 660.000.000 (sáu trăm sáu mươi triệu) đồng, bà L trình bày bà M chưa trả cho bà L khoản tiền nợ gốc nào theo các hợp đồng cho vay tiền mà các bên đã ký kết. Căn cứ vào các Điều 398, 400, 401 và Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng cho vay tiền ngày 14/3/2018 và ngày 24/9/2019 có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết và các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thể hiện: Bị đơn bà M có vay của nguyên đơn bà L số tiền là 810.000.000 (tám trăm mười triệu) đồng. Bà L khai, trong quá trình vay bà M chưa trả cho bà L bất cứ một khoản tiền nợ gốc nào, bà L đã nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng bà M né tránh nên tháng 8/2020, bà L khởi kiện đến Tòa án yêu cầu bà M phải có trách nhiệm trả cho bà L khoản tiền nợ gốc theo các hợp đồng cho vay tiền ngày 14/3/2018 và ngày 24/9/2019 mà bà M đã vay của bà L.

Quá trình giải quyết, bà M không có bất kỳ văn bản phản đối nào đối với yêu cầu của bà L, không cung cấp tài liệu chứng cứ nào khác nên Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu do nguyên đơn cung cấp, tài liệu thu thập được để xem xét và có cơ sở ác định giao dịch vay tài sản giữa bà Nguyễn Thị Kim L và bà Nguyễn Thị Ngọc M có thật và số tiền vay là 810.000.000 (tám trăm mười triệu) đồng bà M chưa thanh toán cho bà L nên bà L yêu cầu bà M phải trả cho bà L số tiền gốc là 810.000.000 (tám trăm mười triệu) đồng. Mặt khác theo đơn yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết và dấu vân tay của nguyên đơn đề ngày 03/12/2020, 22/12/2020, Tòa án đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 14/QĐ – TCGĐ đối với Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương tiến hành giám định chữ ký và chữ viết của bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc M theo hợp đồng cho vay tiền đề ngày 14/3/2018 và 03 hợp đồng cho vay tiền ngày 24/9/2019. Ngày 21/01/2021, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát nhận được Kết luận giám định số 553/GĐ – PC09 ngày 08/01/2021, kết luật giám định kết luận chữ ký, chữ viết họ tên Nguyễn Thị Ngọc M dưới mục đại diện Bên B trong 04 hợp đồng cho vay tiền đề ngày 14/3/2018 và ngày 24/9/2019 so với chữ ký, chữ viết họ tên của Nguyễn Thị Ngọc M trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 – đến M38) do cùng một người ký và viết ra. Căn cứ vào Điều 280, 463 và khoản 1 Điều 466, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà M phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc 810.000.000 (tám trăm mười triệu) đồng là có căn cứ chấp nhận.

Tổng số tiền gốc bà M có trách nhiệm trả cho bà L là 810.000.000 (tám trăm mười triệu) đồng.

Theo nội dung các hợp đồng cho vay tiền các bên có thỏa thuận về việc trả lãi tuy nhiên bà L không yêu cầu bà M phải trả tiền lãi nên Hội đồng xét xét xử không xem xét.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận.

Về chi phí giám định và chi phí đăng báo: Nguyên đơn tự nguyện chịu tiền chi phí giám định và chi phí đăng báo nên ội đồng xét xử ghi nhận.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà L được Tòa án chấp nhận nên căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoàn 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội nên bị đơn bà M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà M có trách nhiệm thanh toán cho bà M số tiền 810.000.000 (tám trăm mười triệu) đồng nên phải chịu 36.400.000 (ba mươi sáu triệu bốn trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, các Điều 91, 93, 95,147, 227, 228, 266, 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ vào Điều 280, 398, 400, 401, 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc M về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo các hợp đồng cho vay tiền đề ngày 14/3/2018 và ngày 24/9/2019.

- Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc M có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị Kim L số tiền nợ gốc 810.000.000 (tám trăm mười triệu) đồng.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Thị Ngọc M phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 36.400.000 (ba mươi sáu triệu bốn trăm nghìn) đồng.

- Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim L số tiền 18.150.000 (mười tám triệu một trăm năm mươi nghìn) đồng do bà L đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016-0033189 ngày 10/8/2020 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

3.Về chi phí giám định và chi phí đăng báo: Bà Nguyễn Thị Kim L tự nguyện chịu 5.600.000 (năm triệu sáu trăm nghìn) đồng tiền chi phí giám định và đăng báo và được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp. Bà Nguyễn Thị Kim L đã thực hiện xong.

4. Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ