- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Kiên Long đối với Anh Ngô Hoàng Ng, Chị Trương thị Q.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2021/DS-ST Ngày: 18 - 01 - 2021 V/v: “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Dương Văn Hôm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Minh Tuấn
2. Ông Huỳnh Hoàng Nam
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Mỹ Nhan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa
Trong ngày 18 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 264/2020/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2020/QĐXXST-DS, ngày 02 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Kiên Long; địa chỉ trụ sở chính: Số 40-42-44 Phạm Hồng Thái, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
- Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Tuấn Anh - Chức vụ: Tổng Giám đốc.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn Sơn - Chức vụ: Giám đốc phòng giao dịch số 03 (theo Quyết định ủy quyền số 699/UQ-NHKL ngày 11/5/2020, có mặt)
Địa chỉ phòng giao dịch số 03: Khu phố Nội Ô, thị trấn Giồng Riềng, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang
2. Bị đơn:
2.1. Anh Ngô Hoàng Ng, sinh năm: 1982 (vắng mặt)
2.2. Chị Trương thị Q, sinh năm: 1982 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp Thạnh Hiệp, xã Lộc, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 11/5/2020, quá trình giải quyết vụ kiện và tài phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Văn Sơn trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Kiên Long đã ký với vợ chồng Anh Ngô Hoàng Ng, Chị Trương thị Q một hợp đồng nguyên tắc hạn mức cấp tín dụng số 115/16/HĐHM/1007-2822 vào ngày 14/9/2016 và một hợp đồng tín dụng ngắn hạn (hợp đồng vay) số 030/19HĐHM/1007-2822 vào ngày 28/02/2019. Hợp đồng thỏa thuận như sau:
Số tiền vay gốc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), lãi suất là 13,60%/năm, thời hạn vay là 12 tháng, ngày đến hạn là 28/2/2020. Lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng một lần và được tính bằng mức lãi suất tiền gửi VNĐ của kỳ hạn 12 tháng lãnh lãi cuối kỳ của Ngân hàng TMCP Kiên Long cộng thêm 3,80%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay ngay truớc thời điểm phát sinh nợ quá hạn. Hình thức thanh toán: Lãi vay và nợ gốc trả 12 tháng 01 kỳ
Tài sản thế chấp bảo đảm cho hợp đồng vay nêu trên là quyền sử dụng đất số C817091 do Ủy ban nhân dân huyện Giồng Riềng cấp ngày 15/10/1995 diện tích 5.382m2, thửa đất số 372, tờ bản đồ số 25, đất tọa lạc tại ấp Thạnh Hiệp, xã Thạnh Lộc, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang do Anh Ngô Hoàng Ng đứng tên thừa kế.
Kể từ ngày vay đến nay anh Ngh, chị Q chưa thanh toán gốc và lãi cho Ngân hàng nên đã vi phạm hợp đồng. Tính đến ngày 18/01/2021 anh Ngh, chị Q còn nợ Ngân hàng số tiền cụ thể là:
- Gốc: 100.000.000 đồng
- Lãi trong hạn: 13.600.000 đồng.
- Tiền lãi quá hạn: 18.164.384 đồng.
- Tiền phạt chậm trả lãi: 1.550.936 đồng.
Tổng cộng gốc và lãi là: 133.315.319 đồng (một trăm ba mươi ba triệu ba trăm mười lăm nghìn ba trăm mười chín đồng).
Nay ông Sơn đại diện cho Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Ngh, chị Q phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Kiên Long số tiền gốc và lãi tính đến ngày 18/01/2021 là 133.315.319 đồng (một trăm ba mươi ba triệu ba trăm mười lăm nghìn ba trăm mười chín đồng).
Ngoài ra anh Ngh, chị Q phải trả lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký từ ngày 19/01/2021 đến khi thanh toán hết số nợ cho Ngân hàng. Trường hợp anh Ngh, chị Q không trả nợ hoặc trả không hết nợ thì Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản của anh Ngh, chị Q để đảm bảo thi hành án.
Anh Ngh, chị Q đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập anh Ngh, chị Q đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh Ngh, chị Q vẫn vắng mặt, không rõ lí do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Ngân hàng TMCP Kiên Long khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Ngh, chị Q phải thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, anh Ngh, chị Q không có đăng ký kinh doanh nên quan hệ tranh chấp của vụ án là tranh chấp “Hợp đồng dân sự vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn là anh Ngh, chị Q có nơi cư trú tại huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Anh Ngh, chị Q với tư cách là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với ông Phúc là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét thấy vào ngày 14/9/2016 và 28/02/2019 giữa Ngân hàng TMCP Kiên Long và anh Ngh, chị Q đã ký một hợp đồng tín dụng kèm theo một khế ước nhận nợ ngày 28/02/2019 là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự. Do đó, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng đã ký kết.
- Xét hợp đồng tín dụng số 030/19HĐHM/1007-2822 ngày 28/02/2019 và khế ước nhận nợ ngày 28/02/2019: Theo thỏa thuận thì thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày giải ngân là ngày 28/02/2019, tính đến nay đã hết thời hạn thực hiện hợp đồng nhưng anh Ngh, chị Q không thanh toán nợ cho Ngân hàng là đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ đã cam kết. Căn cứ theo quy định tại điểm i, khoản 01 Điều 9 Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng thì: “Bên A (tức Ngân hàng TMCP Kiên Long) có quyền khởi kiện bên B (Bên vay vốn) nếu bên B vi phạm hợp đồng”. Do đó, Ngân hàng TMCP Kiên Long khởi kiện yêu cầu anh Ngh, chị Q thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi tính đến ngày 18/01/2021 là có cơ sở chấp nhận.
- Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 115/16HĐHM/1007-2822 14/9/2016 đã được công chứng tại Văn phòng Công chứng Giồng Riềng vào ngày 14/9/2016 đảm bảo về hình thức theo quy định tại Điều 343 của Bộ luật Dân sự 2005.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với các diện tích đất đã thế chấp thuộc quyền sử dụng của anh Ngh, chị Q nên việc anh Ngh, chị Q sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên để thế chấp vay vốn của Ngân hàng TMCP Kiên Long là phù hợp với quy định tại Điều 342, Điều 715 Bộ luật dân sự 2005. Do đó, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng TMCP Kiên Long và anh Ngh, chị Q là hợp pháp làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên thế chấp.
Xét thấy vào ngày 14/9/2016, ngày 28/02/2019 giữa Ngân hàng TMCP Kiên Long và anh Ngh, chị Q đã ký một hợp đồng hạn mức cấp tín dụng và một hợp đồng tín dụng ngắn hạn kèm theo một khế ước nhận nợ ngày 28/02/2019. Để bảo đảm nợ vay anh Ngh, chị Q đã ký kết với Ngân hàng TMCP Kiên Long một hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất có chứng thực của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy hợp đồng vay tín dụng mà các đương sự đã ký kết là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự. Do đó, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng đã ký kết.
Ngân hàng TMCP Kiên Long khởi kiện yêu cầu xử lý tài sản thế chấp khi anh Ngh, chị Q không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc không thực hiên đầy đủ nghĩa vụ trả nợ là phù hợp với quy định tại Điều 721 Bộ luật dân sự 2005 và khoản 1 Điều 299 Bộ luật dân sự 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ cơ sở nhận định và phân tích trên Hội đồng xét xử nghị nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Kiên Long buộc anh Ngh, chị Q phải trả cho Ngân hàng số tiền cả gốc và lãi đến ngày 18/01/2021 là 133.315.319 đồng (một trăm ba mươi ba triệu ba trăm mười lăm nghìn ba trăm mười chín đồng) là hoàn toàn phù hợp.
Kể từ ngày Ngân hàng TMCP Kiên Long có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Ngh, chị Q không trả đủ số tiền nêu trên thì anh Ngh, chị Q còn phải trả cho Ngân hàng TMCP Kiên Long khoản tiền lãi theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thi hành mà anh Ngh, chị Q không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì phía Ngân hàng TMCP Kiên Long có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án huyện Giồng Riềng kê biên phát mãi tài sản thế chấp theo quy định Điều 323 của Bộ luật dân sự để bảo đảm nợ vay theo hợp đồng thế chấp là quyền sử dụng đất số C817091 do Ủy ban nhân dân huyện Giồng Riềng cấp ngày 15/10/1995 diện tích 5.382m2, thửa đất số 372, tờ bản đồ số 25, đất tọa lạc tại ấp Thạnh Hiệp, xã Thạnh Lộc, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang Anh Ngô Hoàng Ng đứng tên thừa kế. Ngân hàng TMCP Kiên Long có trách nhiệm trả cho anh Ngh, chị Q bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C817091 do Ủy ban nhân dân huyện Giồng Riềng cấp ngày 15/10/1995 sau khi đã nhận đủ tiền.
Về án phí:
Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Yêu cầu của Ngân hàng TMCP Kiên Long được Tòa án chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Ngân hàng TMCP Kiên Long là 2.928.000 đồng (hai triệu chín trăm hai mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005548 ngày 16/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Anh Ngh, chị Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch trên số tiền là: 133.315.319 đồng x 5% = 6.665.765,95 đồng, làm tròn là 6.665.765 đồng (sáu triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn bảy trăm sáu mươi lăm đồng)
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 269; Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 342, Điều 343, Điều 715, Điều 721 Bộ luật dân sự 2005;
Khoản 1 Điều 299, khoản 7 Điều 323, Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Kiên Long đối với Anh Ngô Hoàng Ng, Chị Trương thị Q.
- Buộc Anh Ngô Hoàng Ng, Chị Trương thị Q phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Kiên Long số tiền cả gốc và lãi tính đến ngày 18/01/2021 là 133.315.319 đồng (một trăm ba mươi ba triệu ba trăm mười lăm nghìn ba trăm mười chín đồng). Ngoài ra Anh Ngô Hoàng Ng, Chị Trương thị Q còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng TMCP Kiên Long theo mức lãi suất đã thỏa thuận của hợp đồng tín dụng nói trên tính từ ngày 19/01/2021 cho đến khi thi hành án xong.
Kể từ ngày Ngân hàng TMCP Kiên Long có đơn yêu cầu thi hành án nếu Anh Ngô Hoàng Ng, Chị Trương thị Q không trả đủ số tiền nêu trên thì Anh Ngô Hoàng Ng, Chị Trương thị Q còn phải trả cho Ngân hàng TMCP Kiên Long khoản tiền lãi theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thi hành mà Anh Ngô Hoàng Ng, Chị Trương thị Q không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì phía Ngân hàng TMCP Kiên Long có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án huyện Giồng Riềng kê biên phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất số: số C817091 do Ủy ban nhân dân huyện Giồng Riềng cấp ngày 15/10/1995 diện tích 5.382m2 thửa đất số 372, tờ bản đồ số 25, đất tọa lạc tại ấp Thạnh Hiệp, xã Thạnh Lộc, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang Anh Ngô Hoàng Ng đứng tên thừa kế. Ngân hàng TMCP Kiên Long có trách nhiệm trả cho anh Ngh, chị Q bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C817091 do Ủy ban nhân dân huyện Giồng Riềng cấp ngày 15/10/1995 sau khi đã nhận đủ tiền.
2. Về án phí:
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Kiên Long tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.928.000 đồng (hai triệu chín trăm hai mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005548 ngày 16/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (do anh Phạm Hoàng Nam nộp thay).
Anh Ngô Hoàng Ng, Chị Trương thị Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch là 6.665.765 đồng (sáu triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn bảy trăm sáu mươi lăm đồng)
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 18/01/2021, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - Thi hành án huyện; - UBND xã; - Các đương sự; - Lưu; | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Dƣơng Văn Hôm |