vanban.org

Bản án 08/2021/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 17/03/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/03/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Nh, chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị T, sửa bản án dân sự sơ thẩm.

Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Nh, buộc bà Phạm Thị T phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà Nguyễn Thị Nh với số tiền tổng cộng là 9.477.600 đồng (chín triệu bốn trăm bảy mươi bảy nghìn, sáu trăm đồng ). Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Nh, chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị T, sửa bản án dân sự sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 585 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2021/DS - PT
Ngày 17/3/2021
“V/v Bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thi

Các thẩm phán: Ông Võ Thạch Hùng

Bà Nguyễn Thị Hải Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên .

Trong ngày 17 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tnhr Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 01/2021/TLPT-DS ngày 20 tháng 01 năm 2021về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2020/DS-ST ngày 05 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09a/2021/QĐXXPT - DS ngày 24 tháng 02 năm 202, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1960

Địa chỉ: Xóm 6, xã Diễn Tr, huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An; có mặt

Bị đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1971

Địa chỉ: Xóm 9, xã Diễn Tr, huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An; có mặt

DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2020/DS-ST ngày 05 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An thì vụ án có nội dung như sau:

Ngày 08/12/2019 bà Nguyễn Thị Nh đi trồng khoai tây ở ruộng đất của gia đình ở đất Vườn Chạn, xóm 6, xã Diễn Tr, huyện Diễn Ch, gia đình bà đã làm từ năm 2013 đến nay không ai tranh chấp. Năm 2018 đến năm 2019 chị Phạm Thị T xin đất hoặc mua đất là cạnh đất bà, bà T đã thuê máy cày trúc hết vè cõi, bà Nh lại giăng dây dài từ đầu bờ đến cuối bờ và trồng vè cõi lại. Đến năm 2019 bà cũng giăng dây trồng vè cõi, không biết ai đã nhổ vè cõi lần thứ hai, ruộng bà T Hậu là bờ tây sát ruộng của bà. Vào lúc 10 giờ 30 phút bà T kéo xe phân chuồng lên thả xe ra đến phá hoại khoai tây của bà. Bà Nh đi đến gần Phạm Thị T và nói “Mi có quyền chi mà phá khoai tây của tau, dậm khoai tau, mi ra khỏi ruộng của tau”. Sau đó bà T đã đã lôi kéo tay bà và nhận đầu, đấm đá làm ẹp cả nón trên đầu của bà. Lúc đó có chị Bảy H ở xóm 6 xã Diễn Tr, huyện Diễn Ch chứng kiến và can ngăn không cho bà T đánh. Bà Nguyễn Thị B và Phạm Thị Th đều ở xóm 6 xã Diễn Tr, huyện Diễn Ch nói với bà Nh rằng “O Nh về đi chứ con Tám H nó phàm thế, hắn đang đe chiều lên o Nh hắn đánh nữa đó”. Bà Nh đi về, khoảng 11 giờ 30 phút, lúc về nhà thấy người đau tê và khó thở không chịu được. Qua một đêm đến sáng ngày 09/12/2019 bà lên trạm xá xã Diễn Tr khám lấy thuốc, 08 giờ ngày 09/12/2019 bà đi lên bệnh viện huyện Diễn Ch chụp và siêu âm. Ngày 10/12/2019 bà lên trình báo sự việc với Công an xã Diễn Tr về việc bị bà T đánh đau ngực bên phải.

Ngày 12/12/2019 bà Nguyễn Thị Nh thấy đau hơn nên vào bệnh viện thành phố V khám lại và chụp city kết quả bác sỹ báo gãy sườn 2 cung trước bên phải, bác sỹ dặn về nhà nhập viện theo dõi không được cử động, vận động, không làm việc nặng, khoảng 3-4 tháng mới khỏi.

Ngày 27/12/2019 Công an xã Diễn Tr gọi bà và bà Phạm Thị T lên làm việc, bà T chỉ chấp nhận bồi thường từ 500.000 đồng – 1.000.000 đồng nhưng bà không chấp nhận. Kể từ đó đến nay bà T không có thăm hỏi gì và còn nói rằng bà giả bệnh ăn vạ. Nay bà đề nghị tòa án nhân dân huyện Diễn Ch buộc bà Phạm Thị T phải bồi thường các khoản như sau:

- Khám và lấy thuốc ở trạm xá 150.000 đồng

- Khám chụp phim và siêu âm, thuốc tại bệnh viện Diễn Ch 150.000đồng

- Chụp city bệnh viện thành phố V 2 lần 2.000.000đồng, chụp XQ, siêu âm, thử máu lần 1 là 300.000đồng, đi lại lấy thuốc 400.000đồng; thuốc 1.000.000đồng; điều trị tại bệnh viện thuốc uống 2 ngày 400.000đồng; mua thuốc về khi ra viện 1.170.000đồng.

- Trạm xá xã Diễn A 445.000đồng

- Phòng khám gia truyền Xuân Huyền, Nghi D, Nghi L 1.150.000đồng

- Xe lai bệnh viện Diễn Ch, tăc xi chở về 160.000đồng

- Xe lai, ô tô, tăc xi bệnh viện thành phố V 10 lần 500.000đồng

- Xe ô tô, xe lai vào nhà thuốc gia truyền Xuân Huyền Nghi L 4 lần đi về 720.000đồng, tiền củi hầm thuốc 300.000 đồng

- Tiền ăn 03 tháng: tháng 1 từ ngày 08/12/2019 – 08/01/2020 hết 5.000.000đồng; tháng thứ 2 từ ngày 08/01/2020 – 08/02/2020 hết 3.500.000đồng; tháng thứ 3 từ 08/02/2020 đến 08/03/2020 hết 3.000.000đồng.

Tổng cộng là 18.995.000đồng

Tại biên bản hòa giải ngày 03/6/2020 bà Nguyễn Thị Nh bổ sung yêu cầu tiền công mất thu nhập mỗi tháng 4.500.000đ/1 tháng x 06 tháng = 27.000.000 đồng; Tiền bồi dưỡng sức khỏe trong 3 tháng là 3.000.000 đồng, rút yêu cầu về tiền ăn trong 3 tháng. Tổng cộng các khoản yêu cầu là 38.845.000đồng (Ba mươi tám triệu tám trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).

Bị đơn bà Phạm Thị T trình bày: Bà thừa nhận có sự việc xô xát giữa bà và bà Nguyễn Thị Nh vào ngày 08/12/2019, tuy nhiên bà cho rằng bà Nh không bị thương tích gì chỉ bị nhẹ không đến mức phải chi phí nhiều như bà Nh yêu cầu, bà chỉ chấp nhận bồi thường cho bà Nh số tiền khoảng 1.000.000đồng.

Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2020/DS-ST ngày 05 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An đã quyết định

Khoản 6, Điều 26, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 584; 585; 586; 590 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14.

Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Nh buộc bà Phạm Thị T phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe với số tiền tổng cộng là 11.847.000 đồng (Mười một triệu tám trăm bốn mươi bảy nghìn đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, quyền kháng cáo đối với các đương sự.

Ngày 12/10/2010 bà Nguyễn Thị Nh làm đơn kháng cáo với nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và buộc bà Nguyễn Thị T bồi thường cho bà 11.500.000 đồng bà không nhất trí vì bà T đánh bà gãy xương sườn phải điều trị dài ngày. Bà đề nghị buộc bà T phải bồi thường cho bà tiền thuốc, tiền ăn là 8.800.000 đồng; tiền ăn 6 tháng không làm việc được là 18.000.000 đồng; tiền thiệt hại khoai tây 10.000.000 đồng; tiền thiệt hại do không trồng được lạc là 21.000.000 đồng; Tổng cộng là 57.800.000 đồng.

Cùng ngày12/10/2010 bà Nguyễn Thị T làm đơn kháng cáo với nội dung: Tòa cấp sơ thẩm buộc bà phải bồi thường cho bà Nh 11.000.000 đồng là không chính xác đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại tất cả các khoản mà bà phải chịu và xem xét lại tiền án phí cho bà.

Tại phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nh và bà Phạm Thị T giữ nguyên nội dung kháng cáo yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền; việc thu thập chứng cứ đầy đủ, việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đúng trình tự, thủ tục, các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Nh, chấp nhận một phần kháng cáo của bà Phạm Thị T, do Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét lỗi buộc bà T bồi thường thiệt hại sức khỏe chưa chính xác. Bà Nh kháng cáo buộc bà T bồi thường thiệt hại khoai tây, lạc là không giải quyết trong vụ án này.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ và những lời trình bày của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án; ý kiến của các đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm cũng như trong quả trình thụ lý giải quyết vụ án các đương sự không khiếu nại hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng nên Hội đồng xét xử không phải giải quyết. Ngày 05/10/2020 Tòa án nhân dân huyện Diễn Ch xét xử sơ thẩm vụ án và tuyên án, ngày 12/10/2020 bà Nguyễn Thị Nh và bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo và nạp tiền dự phí kháng cáo đúng quy định theo Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết. Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn giữa nguyên nội dung kháng cáo Hội đồng xét xử xét.

Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Nh, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Việc bà Nh và bà T có mâu thuẫn với nhau trong quá trình làm ruộng cạnh nhau nên giữa bà Nh và bà T có xảy ra xô xát. Quá trình xô xát bà Nguyễn Thị Nh có bị gãy xường sườn số 2P nên bà Nh đã phải đi khám điều trị tại trạm xá xã Diễn Tr, bệnh viện huyện Diễn Ch và bệnh viện đa khoa thành phố V. Vì vậy bà Phạm Thị T phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà Nh theo quy định Điều 590 Bộ luật dân sự.

Tòa cấp sơ thẩm đã xem xét cân nhắc các chi phí điều trị trong quá trình bà Nh điều trị, tiền thuốc có hóa đơn chứng từ buộc bà T phải bồi thường cho bà Nh gồm:

- Khám lấy thuốc tại xã Diễn Tr 150.000đồng

- Khám và chụp phim, siêu âm tại bệnh viện đa khoa Diễn Ch

150.000đồng

- Khám lấy thuốc tại trạm y tế xã Diễn An 445.000đồng

- Chụp CTScan 522.000đồng ngày 12/12/2019 theo chỉ định của bác sĩ

- Chụp XQ, siêu âm, thử máu 300.000đồng; thuốc điều trị 1.000.000đồng;

thuốc uống 2 ngày 400.000đồng.

- Tiền thuốc 1.170.000đ khi ra viện

- Tền xe đi lại vào thành phố V 2 lần = 200.000đồng

- Xe lai bệnh viện Diễn Ch, tăc xi 160.000đồng

- Xe đi lại vào phòng khám nhà thuốc Xuân Huyền, Nghi Lộc

200.000đồng

- Tiền thuốc khám ở phòng khám nhà thuốc Xuân Huyền, Nghi Diên, Nghi

Lộc 1.150.000đồng

- Tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe 3.000.000đồng

- Tiền cộng mất thu nhập trong hai tháng 3.000.000đồng.

Tổng cộng các khoản buộc bà T phải bồi thường cho bà Nh 11.847.000 đồng là có căn cứ nên bà Nguyễn Thị Nh kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường là không có căn cứ để chấp nhận, theo mong muốn của bà.

Khoản tiền thiệt hại không sản xuất được khoai tây và lạc Tòa án không giải quyết vụ án này vì quá trình giải quyết sơ thẩm bà Nh không yêu.

Đối với nội dung kháng cáo bà Phạm Thị T cho rằng bà Nguyễn Thị Nh thiệt hại là không đúng, nhưng bà T không đưa ra được bằng chứng nào để Tòa án làm căn cứ không chấp nhận buộc bà T phải bồi thường cho bà Nghi như tòa án xem xét chấp nhận ở trên. Tuy nhiên Tòa án chấp nhận xém xét giữa bà Nh và bà T dẫn đên đánh nhau bà Nguyễn Thị Nh cũng có một phần lỗi, Tòa cấp sơ thẩm chưa xem xét để giảm mức bồi thường cho bà T như Viện kiểm sát phân tích tại phiên tòa là có căn cứ. Do đo, căn cứ khoản 2 Điều 585 Bộ luật dân sự, chấp nhận giảm cho bà Phạm Thị T 20% trách nhiệm dân sự, cụ thể 11.847.000đồng x 20% = 2.369.400 đồng như vậy buộc bà Phạm Thị T bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bà Nguyễn Thị Nh là:

11.847.000 đồng - 2.369.400 đồng = 9.477.600 đồng.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Nh sinh năm 1960 thuộc trường hợp người cao tuổi, bà yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe nên không phải chịu tiền án phí theo điểm d khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 25, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu , nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Do trách nhiệm dân sự buộc bà T bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bà Nh có thay đổi nên Tòa án tính lại án phí theo quy định pháp luật, cụ thể: 9.477.600 đồng x 5% = 473.880 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Nh, chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị T, sửa bản án dân sự sơ thẩm.

Căn cứ Khoản 6 Điều 26, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự 2015.

Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Nh, buộc bà Phạm Thị T phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà Nguyễn Thị Nh với số tiền tổng cộng là 9.477.600 đồng (chín triệu bốn trăm bảy mươi bảy nghìn, sáu trăm đồng ).

Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu , nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Phạm Thị T phải chịu 473.880 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nạp theo biên lai số AA/2019/0004300 ngày 12/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An còn phải thi hành 173.880 đồng.

Căn cứ điểm d, đ Điều 12, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Nguyễn Thị Nh không phải chịu tiền án phí, trả lại cho bà Nguyễn Thị Nh 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí, theo biên lai số A A/2019/0004304 ngày 13/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Ch, tỉnh Nghệ An.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kêt từ ngày có đơn yêu cầu có đơn thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền được trả cho người thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

“Trong trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự” (sử đổi, bổ sung năm 2014).

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ